Khác

Tư tưởng độc lập, tự chủ và thống nhất quốc gia

Sau khi đánh tan "trăm vạn" quân giặc Nam Hán nơi cửa sông Bạch Đằng và giành lại Đại La từ tay kẻ phản bội Kiều Công Tiễn vào năm 938, người anh hùng dân tộc đồng thời là nhà quân sự tài ba Ngô Quyền ắt đã phải nghĩ ngay đến củng cố và bảo vệ nền độc lập, tự chủ. Nhưng làm thế nào để bảo vệ được độc lập, tự chủ trong tình thế kẻ thù phương Bắc luôn dòm ngó với ý đồ tái lập nền đô hộ của chúng trên lãnh thổ của người Việt ở phương Nam? Bài học nóng hổi của họ Khúc, họ Dương hẳn còn đậm nét trong

29/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Hàng nghìn năm tốn bao xương máu để giành lại quyền độc lập, tự chủ đâu phải rẻ rúng, dễ dàng?


Rõ ràng danh hiệu Tiết độ sứ với thủ phủ Đại La cùng tổ chức cai trị của quân đô hộ được họ Khúc, họ Dương kế tục đã tỏ ra bất lực, không thể tồn tại trước thử thách của thời đại - thời đại giành và giữ quyền độc lập, tự chủ từ tay kẻ thù truyền kiếp.


Vấn đề đặt ra cho nhà quân sự Ngô Quyền phải cân nhắc lựa chọn. Ông kế thừa và phát huy truyền thống anh dũng, quật cường của họ Khúc, họ Dương trong đối diện với quân thù, nhưng ông từ bỏ lối mòn của họ. Ông nghĩ đến một hướng đi khác, một cách thức khác để giữ vững và phát huy thành quả giành được không phải chỉ trước mắt mà trong lâu dài cho đất nước, cho dân tộc.


Tiết độ sứ chỉ là một chức danh do nhà Đường trao cho viên quan trấn giữ, cai quản vùng biên viễn xa xôi. Viên quan Tiết độ sứ được nhà vua ban "tiết việt", được quyền giải quyết mọi việc. Tiết độ sứ là tay chân của nhà vua Trung Hoa, quản giữ đất của Trung Hoa. Thời thế đã hoàn toàn khác. Giao Châu không còn là một quận huyện của triều đình phương Bắc, mà là lãnh thổ vừa giành lại được của người Việt. Người đứng đầu cũng không phải do nhà vua Trung Hoa cắt đặt, không phải là tay chân của họ. Từ đây là thời của người Việt quản giữ đất nước của người Việt. Tư tưởng đất Việt do người Việt quản giữ đã hướng dẫn Ngô Quyền hành động, ông xưng vương, định đô ở Cổ Loa, xây dựng một nhà nước tập quyền do quốc vương đứng đầu.


Người ta có thể hỏi tại sao Ngô Quyền không xưng hoàng đế mà lại xưng vương? Hoàng đế là tước vị cao hơn, bắt đầu xuất hiện từ Tần Thủy Hoàng xưng chọn sau khi thống nhất đất nước, lên ngôi vua quản lý Trung Hoa rộng lớn. Vương chỉ là tước vị của người đứng đầu một nước chư hầu, hoặc là tự xưng hoặc do hoàng đế phong. Hoàng đế phong vương cho các con. Có thể nghĩ rằng việc lựa chọn danh hiệu này xuất phát từ sự dè dặt, thận trọng trong quan hệ ứng xử với lân bang, vẫn biết rằng khi Ngô Quyền thắng giặc Nam Hán, giải quyết trọn vẹn, triệt để công cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách đô hộ ngoại bang thì Trung Hoa đang lâm vào tình trạng loạn "ngũ đại thập quốc". Cuộc loạn này kéo dài từ sau sự suy sụp của nhà Đường vào cuối thế kỷ IX, đầu thế kỷ X cho đến năm 960, nếu kể từ khi Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận lên ngôi; hoặc đến năm 979, khi tiểu quốc cát cứ cuối cùng bị tiêu diệt là Bắc Hán. Mặc dù vậy bài học của họ Khúc, cụ thể là Khúc Thừa Mỹ, trong quan hệ với nhà Hậu Lương lúc này đang cầm quyền ở Trung Hoa đã làm cho nhà Nam Hán bất bình dẫn đến đại họa khiến cơ nghiệp bị đổ vỡ, buộc Ngô Quyền phải thận trọng dè dặt. Ông không xưng hoàng đế, cũng như chưa đặt quốc hiệu. Có lẽ trong nhận thức của Ngô Quyền thấy thời thế chưa cho phép. Thế và lực của đất nước vừa mới giành được độc lập, tự chủ chưa đủ mạnh, còn nhiều việc phải làm. Trước mắt là việc định đô và xây dựng một bộ máy quản lý đất nước.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7340



WWW

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 1« Trả lời #31 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2020, 08:42:54 pm »
Định đô là việc trọng đại, không chỉ liên quan đến sự tồn vong của một vương triều mà còn liên quan đến vận mệnh của đất nước. Trước Ngô Quyền, họ Khúc, họ Dương sau khi giành được quyền tự chủ đã lấy lỵ sở Đại La làm nơi đóng giữ của mình. Ngô Quyền từ chối Đại La, ông chọn Cổ Loa. Phải nói rằng, vào lúc này Đại La, thủ phủ của Giao Châu là một tụ điểm dân cư lớn, có lịch sử gắn liền với nền đô hộ của nhà Đường. Cho đến năm 866, theo ghi chép của sử, viên Tiết độ sứ Cao Biền đã cho xây đắp lại Đại La với quy mô như sau: "Đắp La Thành vòng quanh 1.982 trượng lẻ 5 thước, thân thành cao 2 trượng 6 thước, chân thành rộng 2 trượng 5 thước, bốn mặt thành đắp các nữ tường nhỏ trên bốn mặt thành cao 5 thước 5 tấc, lầu nhìn giặc 55 sở, cửa ống 6 sở, cừ nước 3 sở, đường bộ 34 sở. Lại đắp con đê vòng quanh dài 2.125 trượng 8 thước; cao 1 trượng 5 thước; chân rộng 2 trượng, cùng làm nhà cửa hơn 40 vạn gian"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.199).


Qua ghi chép của sử sách, ta có thể hình dung Đại La không chỉ là nơi tụ tập dân cư đông đúc, trù phú mà còn là căn cứ, là địa bàn trọng yếu gắn bó nhiều đời với kẻ thù đô hộ. Nay chính quyền ngoại bang đã quét sạch, nhưng cơ sở bao gồm con người và căn cứ chưa phải đã được loại trừ. Điều đó sẽ là mối hiểm nguy phát ra từ bên trong một khi chúng có hành động đánh phá. Đã vậy Đại La là nơi trống trải. Lực của đoàn "quân mới họp" đã đánh tan được giặc Nam Hán, chiếm lại Đại La từ tay Kiều Công Tiễn, nhưng chưa đủ mạnh để giữ được Đại La khi kẻ thù phương Bắc tấn công tái chiếm. Để bảo vệ nền độc lập, tự chủ vừa mới giành lại được, Ngô Quyền từ bỏ Đại La, định đô ở Cổ Loa, nay thuộc Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Cổ Loa nằm trên đỉnh tam giác thứ hai của châu thổ sông Hồng do hai sông: sông Hồng và sông Đuống hợp thành, từng là kinh đô của nước Âu Lạc thời An Dương Vương vào cuối thế kỷ III, đầu thế kỷ II Tr.CN (khoảng từ năm 208 đến năm 179 Tr.CN). Trở về Cổ Loa, Ngô Quyền không chỉ tìm về chỗ dựa từ cội nguồn dân tộc mà ông còn tìm đến một vị trí chiến lược có nhiều thuận lợi cho công cuộc phòng vệ trong hoàn cảnh của đất nước thời bấy giờ. Ở vào vị trí trung tâm đất nước, cũng như Đại La, từ Cổ Loa theo đường sông nước xuôi ngược dễ dàng. Từ con sông Hoàng nằm sát Cổ Loa, thuyền bè có thể tỏa đi về xuôi ra đến biển theo sông Hồng, sông Đáy hoặc nối với sông Cầu để lên vùng rừng núi Đông Bắc. Về đường bộ, khi cần có thể rút lên vùng rừng núi rộng lớn, hiểm trở phía tây, phía bắc thuận tiện. Rất tiếc sử sách không ghi chép về quá trình xây dựng Kinh đô Cổ Loa của Ngô Quyền. Có thể nghĩ rằng, thời gian ngắn ngủi ở ngôi, từ năm 938 đến năm 944, Ngô Quyền chưa xây dựng được nhiều, chủ yếu là lợi dụng địa thế của các vòng thành được xây đắp từ thời An Dương Vương, có bồi trúc thêm từ Mã Viện khi biến Cổ Loa thành lỵ sở huyện Phong Khê. Tại đây, một bộ máy nhà nước quân chủ do quốc vương cầm đầu đã hình thành thay cho tổ chức hành chính Tiết độ sứ thời họ Khúc, họ Dương, sử chỉ chép: "Kỷ Hợi, năm thứ 1 (939) vua (Ngô Quyền - TG) bắt đầu xưng vương, lập Dương thị làm hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.204), về việc này, sử gia Lê Văn Hưu thời Trần bàn: "Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.205), sử gia Ngô Sĩ Liên thời Lê bàn: "Việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương"3 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.206).


Bộ máy nhà nước quân chủ đó cụ thể được tổ chức như thế nào, sử sách không chép rõ. Thông tin ngắn ngủi trên cho thấy việc đặt "trăm quan", tức là một đội ngũ quan lại gồm văn võ có sắc phục theo thứ bậc, họp thành một triều đình do Quốc vương Ngô Quyền đứng đầu, hoạt động theo nghi lễ đã quy định. Có thể nghĩ rằng trong buổi đầu xây dựng, nhà nước vương quyền thời Ngô mang đậm tính chất quân sự hơn, cũng như Kinh đô Cổ Loa lúc này được Ngô Quyền sử dụng như một quân thành, đồng thời là quốc đô. Tính chất này phù hợp với bối cảnh lịch sử - xã hội thế kỷ X - thế kỷ phục hưng với nhiều hoạt động chinh chiến, binh đao. Tình hình này không chỉ ở thời Ngô mà còn tồn tại trong cả thời Đinh và thời Tiền Lê.


Tại kinh đô Cổ Loa, Ngô Quyền đã chuyển đoàn "quân mới họp" của nước Việt được tôi luyện trong đánh giặc Nam Hán, trong đánh chiếm Đại La, thành một tổ chức quân đội của quốc gia độc lập, tự chủ do quốc vương cầm đầu. Dưới quyền quốc vương có các tướng chia nhau cầm quân ở Cổ Loa. Ít nhất theo bia ký và thần phả, ta biết có các tướng Đỗ Cảnh Thạc, Dương Tam Kha, Phạm Bạch Hổ, Kiều Công Hãn, Ngô Nhật Khánh là những người từng tham gia đánh giặc Nam Hán sau đó về cắm quân ở Cổ Loa1 (Xem Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr.25). Đây là quân ở trung ương, còn quân ở các địa phương gồm quân bản bộ của các thổ hào quản giữ và dân binh bảo vệ trật tự an ninh của các công xã còn tồn tại phổ biến lúc bấy giờ.


Trong thời gian ngắn ngủi từ năm 939 đến năm 944, nhà quân sự đồng thời là Quốc vương Ngô Quyền đang trên con đường xây dựng nhà nước quân chủ và tổ chức quân đội của mình thì ông đã qua đời. Sự ra đi của ông kéo theo tình trạng đổ vỡ của nhà nước và quân đội mối hình thành. Ngô Quyền chưa làm được nhiều nhưng ít nhất từ ý thức đến hành động, ông đã bắt tay xây dựng một nhà nước quân chủ tập trung với tổ chức lực lượng vũ trang độc lập, tự chủ. Nhà nước và tổ chức vũ trang đó chưa đủ mạnh để quản lý có hiệu lực một đất nước còn ngập chìm trong tình trạng gắn kết lỏng lẻo do các công xã và liên minh công xã hợp thành. Vì vậy, sau khi Ngô Quyền qua đời, Dương Tam Kha tiếm ngôi, nội bộ nhà nước quân chủ lục đục dẫn đến tình trạng đại loạn, không kiểm soát được. Tổ chức lực lượng vũ trang ở Cổ Loa nằm trong tay các tướng lĩnh dưới quyền chỉ huy tối cao của ông cũng rơi vào tình trạng phân tán, theo chân các tướng lĩnh về chiếm giữ mỗi người một vùng mà ta thấy họ có mặt trong số mười hai sứ quân được sử sách ghi chép lại.


Sự nghiệp của Ngô Quyền bị dang dở, đổ vỡ nhưng tư tưởng độc lập, tự chủ trong xây dựng một nhà nước quân chủ tập quyền và tổ chức lực lượng vũ trang của ông mang tính thời đại vẫn tồn tại, được kế tục và nâng cao ở các vương triều kế tiếp với người đại diện là Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7340



WWW

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 1« Trả lời #32 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2020, 08:44:06 pm »
Theo sử sách và truyền thuyết, Đinh Bộ Lĩnh là con trai Đinh Công Trứ - một trong những người đã từng cộng tác với Dương Đình Nghệ tham gia đánh đuổi quân Nam Hán giành lại Đại La vào năm 931, tham gia đánh giặc Nam Hán ở sông Bạch Đằng năm 938. Sau đó, ông được họ Dương, tiếp đến là họ Ngô giao cho quản giữ Hoan Châu. Sau khi Đinh Công Trứ mất ở lỵ sở Hoan Châu, Đinh Bộ Lĩnh cùng mẹ là Đàm Thị về quê hương ở Hoa Lư, Trường Yên, Ninh Bình ngày nay. Khi Ngô Quyền mất và Dương Tam Kha tiếm ngôi, Đinh Bộ Lĩnh đã tập hợp dưới quyền mình đội quân bản bộ gồm bè bạn, trai tráng sách Đào Áo ở Trường Yên nổi dậy bất hợp tác với triều đình Cổ Loa. Giành lại được vương vị vào năm 951, nhưng các con của Ngô Quyền kém cỏi. Năm 954, Xương Ngập mất, Xương Văn cầm quyền lại sai sứ sang xin mệnh lệnh vua Nam Hán là Lưu Thạnh, được Nam Hán phong cho làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ kiêm đô hộ1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tr.228). Hành động của Xương Văn đã phản lại tư tưởng độc lập, tự chủ của vua cha, đồng thời đi ngược lại với xu thế của thời đại. Đó chính là lý do khiến Đinh Bộ Lĩnh kiên quyết chống lại triều đình Cổ Loa. Ngay từ năm 951, triều đình Cổ Loa do Xương Ngập, Xương Văn chỉ huy đã điều quân đi đánh dẹp, nhưng không thành công phải rút quân về.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn