Bài viết

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là một nội dung cơ bản, nhất quán, xuyên suốt của tiến trình cách mạng Việt Nam; từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không phải là một biện pháp nhất thời, mà là chiến lược tập hợp mọi lực lượng, nhằm huy động sức mạnh của tất cả các giai tầng xã hội trong cuộc đấu tranh với kẻ thù của dân tộc, của giai cấp vì mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công”(1)

Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, có thể và cần thiết có sự điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề chiến lược của cách mạng, là nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, từ khi Đảng ra đời đến nay, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn thi hành đường lối đại đoàn kết nhất quán, đúng đắn, có hình thức, phương pháp tổ chức phù hợp, nên đã phát huy được truyền thống yêu nước, tập hợp được các lực lượng dân tộc và quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo thành sức mạnh vô địch để vượt qua mọi khó khăn, đưa tới những thắng lợi ngày càng to lớn của cách mạng Việt Nam.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không đơn thuần là phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng yêu nước, cách mạng, mà cao hơn đó là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng cách mạng. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Về mục đích trước mắt, Đảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện  để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(2). Người tuyên bố trước toàn dân tộc: Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam đại thể gồm trong 8 chữ là: “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”(3). Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân để đoàn kết toàn dân tộc: “Phải chăm lo giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(4).

Để hình thành sức mạnh to lớn của dân tộc, việc xác định lực lượng đoàn kết là rất quan trọng, theo Hồ Chí Minh, lực lượng đại đoàn kết dân tộc bao gồm các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam, đồng bào các tôn giáo, các đảng phái, các ngành, các giới, các lứa tuổi… hợp thành khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi. Hồ Chí Minh coi: “Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”(5). Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, độc lập, dân chủ thì chúng ta đều thật thà đoàn kết với họ. Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết các dân tộc thành một khối thống nhất, không phân biệt miền núi hay miền xuôi, đồng bào đa số hay đồng bào thiểu số. Người viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Xêđăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt… Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta”(6).

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, các lực lượng tôn giáo đều ở trong lòng dân tộc Việt Nam. Lợi ích của từng tôn giáo gắn chặt với lợi ích của cộng đồng dân tộc. Hồ Chí Minh nói: Kính Chúa gắn liền với yêu nước, phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc, nước có vinh thì đạo mới sáng, nước có độc lập thì tín ngưỡng mới được tự do.

Bên cạnh việc xác định lực lượng đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh chú trọng các hình thức và phương pháp đại đoàn kết. Theo đó, hình thức tổ chức đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận là một liên minh chính trị – xã hội nhằm đoàn kết rộng rãi các tổ chức yêu nước vào một khối thống nhất, đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Mặt trận là phương tiện để thực hiện mục đích đoàn kết. Việc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, theo Hồ Chí Minh cần đáp ứng các yêu cầu: Một là, Mặt trận phải lấy liên minh công-nông-trí làm nền tảng. Liên minh công-nông-trí có vững, Mặt trận mới bền vững, lâu dài được. Đây là yếu tố cần. Còn yếu tố đủ là: Mặt trận phải đoàn kết với các tầng lớp yêu nước khác để mở rộng tổ chức, mở rộng khối đại đoàn kết. Hai là, Khối đại đoàn kết trong Mặt trận chỉ có thể được củng cố và phát triển bền chặt, khi được Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Đảng lãnh đạo Mặt trận bằng việc đề ra đường lối, chính sách Mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn của cuộc cách mạng; Đảng lãnh đạo Mặt trận bằng phương pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục; Đảng lãnh đạo Mặt trận thông qua tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên.

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của mình, ở mỗi thời kỳ, Đảng tổ chức và xây dựng Mặt trận với các tên gọi khác nhau, phù hợp với thực tiễn cách mạng. Mặt trận có vai trò hết sức quan trọng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc. Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc”(7).

Để khối đại đoàn kết dân tộc được vững chắc, Hồ Chí Minh yêu cầu tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc: 1) Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích  của quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng trong xã hội; 2) Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân; 3) Đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đoàn kết  lâu dài, chặt chẽ; 4) Đại đoàn kết phải chân thành, thẳng thắn, thân ái, gắn với tự phê bình và phê bình… Trong đó, tin vào dân, dựa vào dân là nguyên tắc cơ bản nhất, đó là sự kế thừa và nâng cao tư duy chính trị truyền thống dân tộc “Nước lấy dân làm gốc”, đồng thời còn là sự quán triệt nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(8); “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(9). Hồ Chí Minh nêu lên vai trò của dân trong đại đoàn kết: Dân là gốc rễ, là nền tảng của đại đoàn kết. Dân là chủ thể của đại đoàn kết. Dân là nguồn sức mạnh vô tận, vô địch của khối đại đoàn kết. Dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng sản, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng.

Ngoài ra, để hình thành, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ rõ phải sử dụng đa dạng, linh hoạt các phương pháp đại đoàn kết. Trong đó, để thức tỉnh mọi người, để họ tự nguyện tự giác tham gia đoàn kết thành một khối, điều quan trọng hàng đầu là phải sử dụng các phương pháp như: tuyên truyền, vận động, giáo dục thuyết phục; phương pháp tổ chức và xử lý các mối quan hệ. Muốn xây dựng, củng cố đại đoàn kết, theo Hồ Chí Minh cần phải có phương pháp tổ chức khoa học. Đó là phương pháp xây dựng, củng cố, phát triển hệ thống chính trị, bao gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn