Bài viết

Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc phát triển nền giáo dục mới trong những ngày đầu thành lập nước

Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc phát triển nền giáo dục mới trong những ngày đầu thành lập nước

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc phát triển nền giáo dục mới trong những ngày đầu thành lập nước

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, với bản Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do trong lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã gánh chịu 1 gia tài đổ nát do chế độ thực dân để lại: Kinh tế tài chính nghèo nàn, kiệt quệ; 2 triệu đồng bào bị chết đói dưới chính sách vơ vét của Pháp – Nhật; hơn 90% dân số mù chữ, các tệ nạn xã hội hoành hành… Đồng thời, nhà nước cách mạng non trẻ còn lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, các thế lực đế quốc tay sai ráo riết chống lại Đảng Cộng sản và âm mưu lật đổ Nhà nước. Dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật, 20 vạn quân Tưởng kéo vào miền Bắc nước ta, ở miền Nam, quân đội Anh bao che cho thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Như vậy, cùng một lúc nhân dân Việt Nam phải đương đầu với ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.
Trong điều kiện mới của đất nước, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam chống thù trong, giặc ngoài nhằm thực hiện mục tiêu lý tưởng phải làm cho dân chúng được tự do, độc lập hoàn toàn và ai cũng được hưởng quyền tự do độc lập ấy. Tư tưởng chiến lược này đã được thể hiện trong mọi chủ trương, chính sách và được thực thi trên tất cả các mặt đời sống, xã hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề phải chú ý đến, cùng phải coi là quan trọng ngang nhau: Chính trị, Kỹ thuật, Xã hội, Văn hoá”(1), phải chống đồng thời cả 3 thứ giặc đó là giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Theo đó, chống giặc dốt, diệt giặc dốt đã trở thành một trong những mặt trận quan trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm chỉ đạo ngay từ đầu của cuộc đấu tranh giành, giữ chính quyền, xây dựng đất nước.
Khi bắt đầu đặt ách xâm lược Việt Nam, để dễ bề cai trị, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, hạn chế mở trường học, làm cho dân ta mù chữ để dễ lừa gạt và bóc lột. Do vậy, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, 95% dân số nước ta mù chữ. Chứng kiến hậu quả để lại của nền giáo dục thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc ngay khi nước nhà giành được độc lập là nâng cao dân trí, vì: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”(2). Theo Người, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, sự nghiệp cách mạng thành hay bại, quốc gia, dân tộc thịnh hay suy đều phụ thuộc vào con người, trong đó giáo dục giữ vị trí, vai trò cốt yếu. Theo quan điểm đó, giáo dục chính là xây dựng nguồn lực con người, có học mới có hiểu biết, mới có kiến thức, mới có niềm tin để bảo vệ và xây dựng đất nước. Chính vì vậy, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày những nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết ngay. Trong đó, vấn đề thứ hai là “nạn dốt” được Người coi là một thứ giặc nguy hại không kém gì giặc ngoại xâm. Người nói: “Nạn dốt – Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ”(3) và Người đề nghị mở ngay một chiến dịch diệt dốt và đích thân phát động chiến dịch “Chống nạn mù chữ”, coi đó là bước đột phá đầu tiên để nâng cao dân trí.
Ngày 08/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành liền ba Sắc lệnh quan trọng về diệt dốt, nâng cao dân trí cho người dân Việt Nam. Đó là: Sắc lệnh số 17 thành lập Nha bình dân học vụ, quy định nhiệm vụ của Nha là lo việc học cho nhân dân; Sắc lệnh số 19 quy định hạn trong 6 tháng, làng nào, đô thị nào cũng phải có lớp học và có ít nhất là 30 người theo học; Sắc lệnh số 20 ban bố việc học chữ quốc ngữ là “bắt buộc và không mất tiền” và hạn một năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ.
Đầu tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi chống nạn thất học. Người viết: “Nay chúng ta đã giành được quyền độc lập. Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí… Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ, như các anh chị em trong sáu, bảy năm nay đã gây phong trào truyền bá quốc ngữ, giúp đồng bào thất học. Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học chữ ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ, nhà máy thì mở lớp học cho những tá điền, những người làm của mình. Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm. Đây là lúc các chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu cử và ứng cử. Công việc này, mong anh chị em thanh niên sốt sắng giúp đỡ”(4).

Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ra Sắc lệnh số 44 về việc lập một Hội đồng Cố vấn học chính, có nhiệm vụ nghiên cứu chương trình cải cách việc học của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, trong đó vạch rõ nhiệm vụ của giáo dục là: “mở đại học và trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách học nhồi sọ”.
Thực hiện Lời kêu gọi và sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh , chỉ sau 3 tháng, hàng trăm lớp học bình dân học vụ được mở ra từ thành thị đến thôn quê, rừng núi. Chỉ cần mấy chiếc ghế băng, ghế tựa đặt quanh bàn, quanh chiếc phản, và lấy cánh cửa, tấm ván mộc làm bảng là đã thành lớp học, không có phấn thì dùng gạch non, than củi để viết. Giáo viên đủ các giới, hạng tuổi. Không có lương bổng, họ vẫn vừa dạy học, vừa làm, cổ động học viên, xây dựng trường, tìm kiếm học phẩm.
Dù bận trăm công nghìn việc Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đặc biệt quan tâm, dõi theo từng bước đi của phong trào. Người đến thăm các lớp Bình dân học vụ ở Hà Nội, không quên dành những lời động viên, khuyến khích những giáo viên, những cụ già, những em bé chăm chỉ đến lớp. Khi được nghe báo cáo tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được những thành tích xuất sắc trong phong trào bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ, Người đã ngay lập tức viết thư khen ông Trưởng Ty bình dân học vụ tỉnh Hà Tĩnh. Bức thư có đoạn: “Tôi rất vui lòng nhận được báo cáo rằng: tỉnh Hà Tĩnh đã có mấy làng thanh toán nạn mù chữ. Kết quả ấy là ông khéo tổ chức và lãnh đạo, do các nam nữ giáo viên chịu khó và cố gắng, do đồng bào hăng hái và ham học. Tôi thay mặt Chính phủ gửi giấy khen đồng bào những làng đó.
Đồng thời gửi lời khen ngợi và cảm ơn ông, những bạn giúp việc trong Ty và tất cả nam nữ giáo viên”(5). Người cũng biểu dương những thắng lợi của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào H’mông, xã Bản Phố, tỉnh Lào Cai trong công tác xoá nạn mù chữ.
Nhằm củng cố và định hướng cho nền giáo dục nước nhà để xây dựng một nền giáo dục mới, ngày 09/7/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 119 thành lập Bộ Quốc gia Giáo dục. Tiếp đó, ngày 10/8/1946, Người ra Sắc lệnh số 146 và Sắc lệnh số 147 khẳng định những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới và mục đích tôn chỉ của nó. Tại Sắc lệnh số 146, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy định ba nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới là: đại chúng hoá, dân tộc hoá và khoa học hoá, theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ. Nền giáo dục mới theo quy định của sắc lệnh nói trên gồm ba bậc học: Bậc học cơ bản gồm 4 năm và bắt đầu từ 1950 sẽ là bậc học cưỡng bách; Bậc học trung học và chuyên nghiệp; Bậc học đại học.
Sắc lệnh số 147 đã ấn định thêm những điều khoản pháp chế để thực hiện bậc học cơ bản, không phải trả tiền, các môn học dạy bằng tiếng Việt ở tất cả các bậc từ tiểu học đến đại học, trong tất cả các bộ môn khoa học: khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kỹ thuật.
Chính phủ cũng định ra một chương trình giáo dục, tổ chức ngạch thanh tra và lập hội đồng sách giáo khoa…
Từ tinh thần chỉ đạo, theo dõi sát sao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Chính phủ và sự nỗ lực của mỗi thầy cô giáo và người dân lúc bấy giờ, Bình dân học vụ đã nhanh chóng trở thành một phong trào sôi nổi trong cả nước, trở thành một phần của phong trào Thi đua kháng chiến kiến quốc. Chỉ sau một năm (08/9/1945 – 8/9/1946), phong trào bình dân học vụ đã thu được những thành tích đáng kể: Theo sách Việt Nam chống nạn thất học, do Nxb. Giáo dục xuất bản năm 1980, phong trào bình dân học vụ đã xóa mù chữ cho hơn 2,5 triệu người, phát triển được gần 96.000 giáo viên, mở được gần 75.000 lớp học.
Sau 5 năm (đến ngày 30/6/1950), gần 12,2 triệu người biết chữ. 10 tỉnh với 80 huyện, hơn 1.400 xã và 7.200 thôn được công nhận thanh toán nạn mù chữ. Số người mù chữ còn lại tập trung ở miền núi, vùng bị địch chiếm như Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Đây có thể xem là kỳ tích, là nguồn lực cực kỳ quý giá và quan trọng để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Bởi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “không có giáo dục, không có cán bộ, thì cũng không thể nói gì đến kinh tế, văn hóa”(6).
Tuy nhiên, với cương vị là người lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ mong mỏi mọi người dân dừng lại ở biết đọc, biết viết, mà Người còn mong muốn đưa dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc giàu tri thức, một dân tộc cách mạng và văn minh. Nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập (9/1945), Người gửi thư cho các em học sinh và nhắn nhủ “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của của các em”(7).
Đồng thời, Người cũng viết bài “Nhân tài và kiến quốc” đăng báo Cứu quốc số 91, ngày 14/11/1945. Trong bài báo, Người nói “muốn kiến thiết cần phải có nhân tài”(8). Người luôn chú ý đến việc tuyển dụng nhân tài, tìm người tài đức để tham gia vào việc lãnh đạo đất nước kiến thiết nền giáo dục. Đây là một việc làm vô cùng đúng đắn, đặc biệt trong hoàn cảnh nước Việt Nam còn non trẻ đang thực hiện công cuộc kiến thiết đất nước. Không chỉ như vậy, sự quan tâm sát sao của Người để xây dựng nền giáo dục mới còn được thể hiện qua một loạt sắc lệnh như Sắc lệnh số 45 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 10/10/1945 về việc thành lập Ban Đại học Văn khoa tại Hà Nội; Sắc lệnh số 56 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 17/6/1946 về việc thành lập trường Đại học Ngoại ngữ…
Một trong những quan điểm đúng đắn nữa của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc giáo dục đặc biệt phải có phương pháp phù hợp với từng đối tượng mới đạt hiệu quả cao, không thể áp đặt một cách giáo dục cho mọi cấp học, mọi lứa tuổi. Thể hiện rõ tinh thần này, trong Thư gửi hội nghị giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng (ngày 31/10/1955), Người nêu rõ mục đích đào tạo của nhà trường, nhiệm vụ của mỗi cấp học Đại học, Trung học, Tiểu học và yêu cầu gia đình và nhà trường liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục con em. Cùng với quan điểm giáo dục phổ cập, giáo dục nâng cao và giáo dục chuyên nghiệp, Người còn rất chú trọng đến quan điểm thực tiễn – học đi đôi với hành, lý thuyết phải gắn liền với thực tiễn. Trong bài viết “Học sinh và lao động” năm 1957, Người đề cao ý thức yêu lao động, kính trọng lao động
dù đó là lao động chân tay (làm ruộng) một cách đầy đủ nhất để giáo dục học sinh ý thức này. Người cũng gợi mở giải pháp mở rộng nhiều loại hình đào tạo và nhất là xác định cho học sinh phổ thông thấy không chỉ duy nhất vào Đại học mới là con đường vươn lên của học sinh tốt nghiệp phổ thông. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật rõ ràng, chính xác, đã trở thành định hướng, chuẩn mực để giáo dục toàn dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng và đánh giá cao vai trò, vị trí của người thầy giáo trong nền giáo dục toàn dân, theo Người, mỗi người thầy đều giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, là những chiến sĩ trên mặt trận giáo dục, là những người vẻ vang nhất, là những người anh hùng vô danh.
Tháng 5/1946, để khen ngợi và biểu dương thành tích của những người làm công tác Bình dân học vụ, những người có công khai sáng những tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hóa sơ bộ cho dân tộc, Người viết: “Anh chị em là những người vô danh anh hùng. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em”(9), và trong sự cố gắng đó, sự vinh dự đó thì “tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng”(10). Nói về giáo viên, Người đặc biệt nhấn mạnh: “Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy học là: Chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà. Để làm trọn nhiệm vụ ấy, cán bộ giáo dục cần phải luôn luôn ra sức thi đua công tác và học tập, thật thà tự phê bình và phê bình để cùng nhau tiến bộ mãi”(11). Bức thư cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho ngành giáo dục trong năm học 1968-1969 đã thể hiện sâu sắc một lần nữa tư tưởng và triết lý giáo dục của Người, bởi “không có thầy giáo thì không có giáo dục”, nên ngay từ đầu khi thực hiện công cuộc kiến thiết đất nước và trong suốt cuộc đời Người sau này, Người luôn quan tâm đến đội ngũ nhà giáo để thực hiện sự nghiệp trồng người.
Tóm lại, xây dựng một nền giáo dục mới ngay từ những ngày đầu thành lập nước, những quan điểm sáng suốt và cực kỳ đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những đã đưa dân tộc ta đánh bại giặc dốt, cứu hàng chục triệu người thoát khỏi cảnh mù chữ, xây dựng được một nguồn lực mới mạnh mẽ cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Đồng thời, những quan điểm đó còn là nền tảng cho đường lối giáo dục của Đảng ta như khẳng định giáo dục là quốc sách, xây dựng một xã hội học tập, học tập suốt đời, học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn để vươn tới những đỉnh cao trí tuệ, để có một nước Việt Nam có tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn