Khác

Tư tưởng phòng ngự chiến lược, phản công chiến lược

Phòng ngực chiến lược và phản công chiến lược không phải là tư tưởng quân sự mới xuất hiện vào thời Lý. Tư tưởng này đã xuất hiện từ trước cùng với sự ra đời tổ chức lực lượng vũ trang, quốc phòng của nhà nước độc lập, tự chủ, thể hiện rõ trong chống giặc Tống thời Tiền Lê, thế kỷ X. Điều cần nói ở đây là vào thời Lý, tư tưởng này đã được kế thừa và phát triển ở trình độ cao hơn và biểu hiện phong phú, mãnh liệt, sắc nhọn hơn trong phòng chống giặc ở sông Như Nguyệt (sông Cầu).

29/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Triệt phá căn cứ Ung Châu và các trại của quân Tống ở sát biên giới, Lý Thường Kiệt đã "bẻ được mũi nhọn" của giặc. Tám ngày sau, vào ngày 9-3-1076, vua Tống hạ lệnh đánh Đại Việt. Cũng liền sau khi hạ được thành Ung Châu, Lý Thường Kiệt rút quân về chuẩn bị chống giặc. Nhà Tống quyết đánh chiếm Đại Việt bằng mọi giá. Nhưng chúng có đánh chiếm được hay không, không phải do một mình chúng định đoạt. Quân dân Đại Việt thời Lý dưới quyền chỉ huy của Lý Thường Kiệt quyết tâm chống giặc, bảo vệ độc lập của Tổ quốc.


Tiến hành xâm lược lần này, nhà Tống huy động khoảng 10 vạn quân chiến đấu gồm bộ binh, kỵ binh, 20 vạn phu vận chuyến, 1 vạn ngựa. Trong số quân trên có 45 nghìn quân tinh nhuệ từng chinh chiến với Liêu - Hạ ở phía Bắc điều về chia làm 9 đạo do 9 tướng chỉ huy. Còn lại là quân mới mộ ở các lộ Hà Bắc, Kinh Đông và các khe động vùng biên giới. Vua Tống cử Quách Quỳ - một võ tướng từng giúp Phạm Trọng Yêm đánh Hạ giữ biên thùy phía Bắc làm Chánh tướng, với chức An Nam đạo, hành doanh mã bộ quân, Đô tổng quản, Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm Phó tướng cùng Yên Đạt giữ chức Phó đô tổng quản. Về quân thủy do Dương Tùng Tiên giữ chức Chiến trạo đô giám thuộc An Nam đạo, hành doanh cầm đầu. Giặc Tống tiến vào Đại Việt theo hai hướng. Quân bộ và quân kỵ tiến từ phía bắc và đông bắc. Đại binh do Quách Quỳ chỉ huy theo đường Lạng Châu, theo sứ lộ do nhà Lý đắp từ năm 1020 vào Thăng Long. Quân thủy men theo dòng Đông Kênh ven biển đến sông Bạch Đằng tiến sâu vào nội địa phối hợp với quân bộ.


Đối với giặc Tống, hành quân vào Đại Việt lần này không dễ dàng. Ngoài việc huy động quân lính, các vấn đề hậu cần như lương thực, thuốc men chữa trị cho quân lính khi dấn thân vào một vùng hoang vắng, khí hậu thất thường, nhiều sơn lam, chướng khí đều phải chuẩn bị kỹ lưỡng, đòi hỏi phải có thời gian. Chính vì vậy, lệnh đánh chiếm được ban hành vào đầu tháng 3-1076 mà mãi đến đầu năm 1077 ngày 8-1, chúng mới đưa quân vượt qua biên giới Đại Việt.


Nắm được ý đồ chiến lược và đường tiến quân của giặc, Lý Thường Kiệt đã bố trí phòng ngự chặn giữ giặc khi chúng vượt qua biên giới tiến vào nội địa nhằm trước mắt là tiêu hao và kìm chân chặn đứng giặc. Thực hiện nhiệm vụ này là các tướng địa phương cùng đội quân thượng du, thổ binh từng đánh phá các trại giặc tiến lên vây hãm thành Ung Châu vừa thắng trận kéo về. Đó là các đạo quân Quảng Nguyên (Cao Bằng) do Lưu Kỷ trực tiếp chỉ huy; đạo quân Hạ Liêu - Cổ Lộng (Ngân Sơn - Bắc Kạn); đạo quân Môn Châu (Đông Khê - Cao Bằng) do tướng Hoàng Kim Mãn chỉ huy; đạo quân Động Giáp (Lạng Sơn) do Phò mã Thân Cảnh Phúc làm tướng; đạo quân Tô Mậu (Quảng Ninh) do tướng Vi Thủ An chỉ huy. Do nhiệm vụ đối phó với giặc trên tuyến quan trọng theo đường quan lộ vào Thăng Long nên đạo quân của Phò mã Thân cảnh Phúc có sự hỗ trợ của các đạo quân của Hoàng Kim Mãn và đạo quân của Vi Thủ An hình thành tuyến giữa phối hợp với cánh tả của Lưu Kỷ và cánh hữu của Lý Kế Nguyên. Các đạo quân trên hình thành tuyến phòng ngự thủy, bộ liên hoàn dọc biên giới phía Bắc có nhiệm vụ kìm chân tiêu hao giặc, phối hợp với chiến trường chính ở phòng tuyến Như Nguyệt.


Từ diễn biến của toàn cục, có thể nghĩ rằng trong ý đồ chiến lược phòng ngự của Lý Thường Kiệt, ông đã lường trước với thế mạnh của giặc, chúng có thể tiến sâu vào nội địa nhằm mục tiêu tiến vào đánh chiếm Thăng Long. Quyết tâm không cho chúng tới gần kinh đô, Lý Thường Kiệt đã biến dòng sông Nguyệt Đức (sông Cầu) thành chiến hào án ngữ mặt bắc, chặn đứng đường tiến về Thăng Long của giặc. Đại quân gồm chính binh cùng quân địa phương khoảng 5-6 vạn do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy tại phòng tuyến Như Nguyệt.


Lại một lần nữa, ta thấy việc lợi dụng địa hình tự nhiên kết hợp với sự xây dựng của con người tạo nên hiểm địa của các nhà quân sự trong phòng ngự chống giặc đã xuất hiện ở thế kỷ X và bây giờ là thời Lý. Nếu như ở thế kỷ X là núi non Hoa Lư, là dòng sông Cái với thành Bình Lỗ, thì ở thế kỷ XI là dòng sông Nguyệt Đức với phòng tuyến Như Nguyệt.


Phát nguyên từ Cao Bằng chảy qua Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh đổ vào sông Lục Đầu ở Phả Lại, sông Nguyệt Đức như một chiến hào chặn ngang mọi đường bộ từ Quảng Tây vào Thăng Long. Khúc cuối dòng sông dài khoảng gần 100 km có đoạn từ ngã ba sông Cà Lồ - sông Cầu về xuôi đi lại dễ dàng gọi là sông Như Nguyệt. Sông Như Nguyệt có bến đò Nguyệt, bến đò Thị Cầu dẫn theo đường bộ về Thăng Long dài khoảng 20 và 30 km. Lợi dụng địa thế lợi hại của dòng sông, Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến bên hữu ngạn, bờ nam sông Như Nguyệt. Sông chưa có đê, sau chiến thắng mới "đắp đê ở sông Như Nguyệt dài 67.380 bộ"1 (Việt sử lược, Sđd, tr.112). Bên tả ngạn sông có dãy núi Nham Biền, có chỗ chân núi lan ra mặt nước, có rừng cây um tùm tạo nên thế hiểm trở của dòng sông, thuận lợi cho việc lập phòng tuyến.


Phòng tuyến Như Nguyệt là sự kết hợp giữa dòng sông và chiến lũy đắp bằng đất dọc bờ sông được gia cố thêm bằng nhiều tầng hào, dậu, cọc tre dày đặc và hố chông. Quân lính bộ do Lý Thường Kiệt chỉ huy khoảng 4 vạn, chia ra từng trại đóng giữ những nơi hiểm yếu, như trại Như Nguyệt, Thị Cầu và Phấn Động. Quân thủy khoảng 400 chiến thuyền và hơn 2 vạn quân do hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn chỉ huy, đóng ở Vạn Xuân (vùng Lục Đầu) - một vị trí cực kỳ trọng yếu trên đường thủy vùng Đông Bắc.


Sự kết hợp giữa phòng tuyến Như Nguyệt gần Thăng Long và các cánh quân chặn giữ vùng biên giới Đông Bắc đã hình thành một thế trận phòng ngự liên hoàn, có trọng điểm nhằm chủ động chặn giữ và tiêu hao, tiêu diệt giặc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn