TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ THỜI TRẦN (THẾ KỶ XIII - XIV)
Đến thế kỷ XIII, tư tưởng quân sự Việt Nam (thời Trần) đã có một bước phát triển rất lớn. Cùng với những chiến công oanh liệt trong ba lần kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên xâm lược, ở Đại Việt đã xuất hiện nhiều tác phẩm lý luận và những tư tưởng quân sự độc đáo. So với những quan điểm, tư tưởng quân sự cùng thời ở các nước châu Á, châu Âu, thì có thể coi đó là những quan điểm, tư tưởng vượt thời đại. Sự xuất hiện những quan điểm, tư tưởng quân sự thời Trần là một bước phát triển mới, quan t
| I- NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN 1. Khái quát tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội thời Trần Đầu thế kỷ XIII, với sự kiện Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, triều Lý rời khỏi vũ đài chính trị; một vương triều mới thay thế: triều Trần (1226 - 1400). Từ đây, nước Đại Việt trải qua một giai đoạn phát triển mới. Về khách quan, điều đó phù hợp với nguyện vọng hòa bình, thống nhất của nhân dân và yêu cầu phát triển của lịch sử. Triều Trần trẻ trung thay thế triều Lý suy yếu, để lãnh đạo đất nước trong một bối cảnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó là lúc ở phương Bắc, đế quốc Mông Cổ đang phát triển như vũ bão, những đạo quân viễn chinh người Mông Cổ đã chinh phục nhiều nước và đang đe dọa nghiêm trọng vận mệnh nhiều quốc gia, dân tộc. Đất nước ta, vì thế sắp bước vào một thử thách hiểm nguy trước họa xâm lăng. Vương triều Trần đã cùng nhân dân Đại Việt khẩn trương bước vào công cuộc xây dựng đất nước, củng cố quốc phòng, chuẩn bị mọi lực lượng để sẵn sàng đánh giặc. Thế kỷ XIII, nước Đại Việt đã vươn lên mạnh mẽ, đạt được những thành tựu đáng tự hào trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và nhất là trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Sự phát triển về mọi mặt của đất nước cùng với điều kiện lịch sử - xã hội lúc bấy giờ là cơ sở, nền tảng xuất hiện những quan điểm, tư tưởng về dựng nước và giữ nước thời Trần, trong đó có tư tưởng quân sự, quốc phòng, góp phần để dân tộc ta giành được những thắng lợi vĩ đại trong những lần kháng chiến chống ngoại xâm. a) Lãnh thổ quốc gia, vị trí địa lý quân sự nước Đại Việt So với thời Lý, lãnh thổ Đại Việt thời Trần không mấy thay đổi. Về đại thể, Đại Việt bao gồm những vùng lãnh thổ Bắc Bộ và một phần Trung Bộ ngày nay, trong đó trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn nhất là Kinh đô Thăng Long. Phía bắc, Đại Việt giáp với Trung Quốc ở vùng Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) bấy giờ thuộc nhà Tống và nhà Nguyên, đồng thời giáp với vương quốc Đại Lý (tức Nam Chiếu) ở vùng Vân Nam. Phía đông là biển rộng bao la và các hải đảo. Phía nam giáp vương quốc Chăm Pa (Chiêm Thành). Lãnh thổ Đại Việt như một bao lơn rộng nhìn ra biển Đông, có vị trí địa lý quan trọng, nằm trên đường giao lưu từ bắc xuống nam, từ tây sang đông. Trải dài từ Móng Cái đến miền Trung Trung Bộ, nước Đại Việt gồm cả đồng bằng, rừng núi và sông biển. Cấu tạo lãnh thổ với rừng núi, đồng bằng, sông ngòi, ao hồ và biển đảo, cùng với sự phân bố dân cư trên khắp các miền đất nước có ảnh hưởng lớn đến tư duy cấu trúc hành chính, quân sự cũng như những hoạt động quân sự, quốc phòng thời đó. Bấy giờ, công cuộc khai phá đất hoang để tăng thêm diện tích cư trú và canh tác ra vùng biển được tiến hành thường xuyên và trở thành quốc sách. Vua Trần cho phép các vương hầu, công chúa được quyền chiêu tập dân nghèo và những người phiêu tán làm nô tỳ, đắp đê ngăn nước mặn để khai hoang, lập các điền trang. Nhờ phương thức đó mà lưu vực các sông lớn ở Bắc Bộ và Trung Bộ ngày càng trở thành địa bàn cư trú chủ yếu của cư dân, là những vùng đất phì nhiêu, sản xuất nhiều lúa gạo nhất thuở ấy. Nước Đại Việt đã sớm quy tụ trong một cộng đồng dân tộc nhiều thành phần, trong đó đa số là người Kinh, ở trung du và rừng núi là địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số khác như Mường, Tày, Thái, Mông, Nùng, Dao, V.V.. Người Việt tụ cư trong các cộng đồng làng xã hay động bản. Quan hệ giữa các dân tộc sống trên lãnh thổ Đại Việt là mối quan hệ đoàn kết, thân ái và bình đắng. Khối thống nhất ấy đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền các cấp mà trên hết là triều đình trung ương với những chính sách khá tiến bộ. Sách Đảo di chí lược của Trung Quốc đời Nguyên ghi rằng: Nước Đại Việt... đất rộng người đông, khí hậu thường nóng, ruộng đất phần nhiều phì nhiêu1 (Xem Uông Đại Uyên: Đảo di chí lược, tự phục trại toàn thư, t.3). Sách An Nam chí lược cũng phản ánh: Nước Đại Việt "dân cư đông đúc". Và Dư địa chí của Nguyễn Trãi cho biết, thời Trần chia nước thành 12 xứ, viện quan dâng "sổ vàng", hạng đại nam và trung nam có 4.900.000 đinh, hạng hoàng nam có 2.104.300 đinh1 (Xem Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện sử học: Nguyễn Trãi toàn tập, Sđd, tr.214). Như vậy, theo Nguyễn Trãi, thời Trần, nước Đại Việt đã có trên 7 triệu đinh nam (?). Bấy giờ, do nhu cầu quản lý nhân đinh để tuyển quân, bắt phu và thu thuế, triều đình nhà Trần đã lập sổ hộ tịch. Tuy rằng, sử sách xưa ghi chép không cụ thể về dân số Đại Việt là bao nhiêu, nhưng có thể đoán rằng dân số nước ta thời Trần có khoảng 6 -7 triệu. Theo sử cũ, Đại Việt là một xứ sở phồn thịnh. Đó là một nước mà từ sớm đã thu hút nhiều thương gia ngoại quốc; như sách Tiền Hán thư chép: "Đất Việt ở gần biển, có nhiều tê, voi, đồi mồi, ngọc châu, ngọc ky, vàng, đồng, hoa quả, vải. Người Trung Quốc đi lại buôn bán phần nhiều trở nên giàu có"2 (Tiền Hán thư, q.28, tr.36). Sách An Nam chí của Cao Hùng Trưng cũng viết: "ở đó ruộng màu mỡ, cấy lúa trồng dâu và chăn nuôi đều thích nghi cả... Muối thì trắng như tuyết, cánh chim sả thì đỏ tía đẹp mắt. Vàng thì có sẵn ở châu Phú Lương và Quảng Uyên. Hạt trai sáng thì có sẵn ở các xứ Tĩnh An và Vân Đồn. Còn san hô và đồi mồi thì sẵn ở trong biển"3 (Cao Hùng Trưng: An Nam chí, tài liệu dịch của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr.81). Sách Lịch triều hiên chương loại chí cho biết: "Nước Đại Việt là nơi đô hội ở phương Nam; ruộng cấy lúa tốt, đất trồng dâu tốt, núi sẵn vàng bạc, biển sẵn châu ngọc, người ở đâu đến làm ăn buôn bán cũng làm giàu được cả"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.IV, tr.35). Một đất nước giàu đẹp lại nằm ở vị trí địa lý quan trọng thì không thể tránh khỏi con mắt nhòm ngó đầy tham vọng của những thế lực bành trướng xâm lược ở sát nách qua thế kỷ này đến thế kỷ khác. Kinh nghiệm lịch sử hơn một nghìn năm trước đã được Phan Huy Chú khái quát như sau: "Cái tiếng phong phú ấy đồn đi xa nên Trung Quốc lúc nào cũng nghĩ cách chiếm lấy nước mình, đặt ra làm quận huyện để cai trị từ lâu rồi. Lúc chưa lấy được thì nghĩ cách để lấy, lúc đã lấy được thì không chịu bỏ ra nữa"2 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.IV, tr.35). Tham vọng xâm lược Đại Việt của các thế lực phong kiến phương Bắc không bao giờ dứt. Triều đại này, thế kỷ này chúng bị đánh bại thì triều đại sau, thế kỷ sau lại nuôi tham vọng xâm lược lớn. Nhà Tống đã hai lần tiến hành chiến tranh để thôn tính nước ta (thế kỷ X và XI). Thế kỷ XIII, quân Mông - Nguyên ba lần xâm lăng Đại Việt. Chúng đã gây nên những cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, hao binh, tổn tướng, hy vọng mở đường tiến xuống phương Nam, nhưng đều bị thất bại, để rồi như vua Nguyên, Hốt Tất Liệt nói rằng: "Việc Nam chinh như ngứa ngáy trong tim ta". Điều kiện về lãnh thổ, hoàn cảnh địa lý - lịch sử trên đây có những thuận lợi cơ bản đối với công cuộc xây dựng đất nước, nhưng cũng đặt ra những thách thức và trách nhiệm nặng nề trong sự nghiệp giữ nước. Một đất nước luôn bị kẻ thù lăm le xâm lược, quấy phá, thì hai nhiệm vụ dựng nước và giữ nước luôn phải gắn liền với nhau. Điều đó đòi hỏi dân tộc ta, nhân dân ta cũng phải thường xuyên cảnh giác, quan tâm xây dựng tiềm lực đất nước trên các phương diện để có đủ sức mạnh vật chất và tinh thần bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ của mình. |



