Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Từ Việt Bắc 1947 đến nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Sau khi quân Pháp thất bại và rút khỏi căn cứ Việt Bắc trong Chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông 1947, cơ quan chỉ huy của ta đã tổng kết nhiều kinh nghiệm quan trọng về nghệ thuật lãnh đạo và chỉ huy chiến tranh. Dưới sự chỉ đạo của Võ Nguyên Giáp, quân ta kiên định tư tưởng tiến công, phát huy sức mạnh của Chiến tranh nhân dân, dựa vào sự che chở của nhân dân và thế trận rộng khắp để chuyển từ bị động sang chủ động. Từ những kinh nghiệm đó, Đảng và quân đội đề ra chủ trương “biến hậu phương địch t

Lai Châu07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 21 tháng 11, địch rút Tuyên Quang về Vĩnh Yên, có bộ phận về Đèo Khế, Phú Minh, bị đánh không liên lạc được với cánh phía Đông từ Chợ Mới về. Ngày 22 tháng 11, cánh quân đường 4 rút về Chợ Mới rồi bỏ xe, đi bộ về Thái Nguyên (vì đường bị phá hoại). Một tiểu đoàn địch luồng rừng qua Quán Vuông xuống Yên Thông, đến Quán Ông Già bị Tiểu đoàn 103 do anh Vũ Lăng làm tiểu đoàn trưởng, đánh thiệt hại nặng. Có lúc chúng vào rất sát cơ quan. Biết rằng đó chỉ là một lực lượng nhỏ cảnh giới cho chủ lực rút, mà ở đây ta đã có ba tiểu đoàn mạnh đang bám đánh địch, nhưng tất cả cán bộ cơ quan đã mang vũ khí ra bố trí ở bìa rừng. Tôi đưa anh Văn tạm lánh ở đồi cây sau bản, bố trí vệ binh sẵn sàng ở chân đồi. Đến gần chiều tiếng súng đã xa, tôi cùng một tổ vệ binh xuống trước dò xét nắm chắc không còn địch mới lên đón anh về bản. Đến đây tôi mới thở phào, nhẹ nhõm. Và cũng là đến lúc kết thúc cuộc hành quân đánh lên Việt Bắc của địch. Chúng còn đóng lại ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai.

Ngày 16 tháng 12, sau khi địch rút khỏi huyện Định Hóa, Đại Từ, Bộ Tổng chỉ huy tổ chức hội nghị với các cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các khu ở Bắc bộ để rút kinh nghiệm chiến dịch Thu Đông 1947 ở Việt Bắc.

Qua đây tôi hiểu được phong cách chỉ đạo chỉ huy của cấp lãnh đạo chiến lược.

Phải nhìn xa, trông rộng, hiểu sâu về địch về ta, biết phân tích một cách biện chứng, trong cái mạnh cũng thấy được chỗ yếu của địch. Phải biết phát huy thế mạnh của chiến tranh nhân dân, nhờ đó ta luôn có thể chủ động tiến công địch trong chiến đấu và có thể biến bị động thành chủ động về chiến dịch nếu ta biết chuyển thế mạnh thành lực mạnh. Nhìn xa trông rộng không những để giải quyết vấn đề trước mắt mà còn để chuẩn bị cho tương lại. Như năm 1947 khi chiến dịch Việt Bắc chưa kết thúc, anh Văn đã có hai huân lệnh chỉ đạo hai vấn đề hết sức quan trọng cho cả năm 1948, năm 1949 và đầu năm 1950 (năm 1949 lại tổ chức luyện quân lập công lần hai).

Về sử dụng chủ lực, phải hiểu rằng quy mô tổ chức lực lượng phải phù hợp với trình độ tác chiến là một quy luật. Còn trình độ tác chiến lại lệ thuộc con người và vũ khí trang bị. Tháng 7 năm 1947 đã có sắc lệnh thành lập đại đoàn, nhưng đến tháng 10 lại phải phân tán đại đoàn và hai phần ba các trung đoàn để phát triển chiến tranh du kích mà chủ lực còn lại vẫn thực hiện nhiệm vụ tốt.

Khi suy nghĩ để chọn quyết tâm và kế hoạch tác chiến phải luôn quán triệt tư tưởng tiến công. Như tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra; Phải “không ngừng giữ thế tiến công”. Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết thời kỳ đầu chiến tranh đã rút ra 11 nguyên tắc thì nguyên tắc đầu tiên là: Phải nắm vững tư tưởng tiến công. Khi đã rơi vào thế bị động phải tìm cách chuyển bị động sang chủ động (khi ta còn yến vẫn thực hiện được).

Về chỉ đạo chỉ huy, phải hết sức coi trọng tập trung thống nhất, nhưng khi cần phải biết tạm phân tán về tổ chức, nhưng vẫn bảo đảm quyết tâm và kế hoạch thống nhất, mọi hành động phải hướng vào trọng tâm trọng điểm, vào mục tiêu chủ yếu.

Qua thực tế chiến dịch này, tôi mới thực sự hiểu rằng, để đánh lại cuộc hành quân, hàng vạn quân rầm rộ như vậy để bảo vệ cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến của ta, kế hoạch chiến lược của ta phần chủ yếu là dựa vào sự che chở của dân. Quả thật “mặt trận trong lòng dân” còn mạnh hơn hàng vạn hùng binh.

Tôi cũng hiểu được rằng: vì sao ta yếu hơn địch, lại đang bị địch chủ động tiến công vây bắt chỉ huy và tiêu diệt lực lượng quân sự của ta, vậy mà ta vẫn chủ động tiến công địch – Đó là nhờ ta có thế trận chiến tranh nhân dân, địch bị đánh khắp nơi phải phân tán đối phó, bộc lộ nhiều chỗ yếu, sơ hở, ta tập trung lực lượng đánh vào chỗ yếu và hiểm yếu của địch thì ta có thể tập trung ưu thế hơn địch và có thể làm đảo lộn kế hoạch của chúng. Như vậy là ta đã chuyển thế mạnh thành lực mạnh, từ bị động chuyển thành chủ động. Đúng như hai câu thơ của Bác Hồ đã nói:

“Lạc nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời một tốt cũng thành công”.


Sau thất bại ở Việt Bắc, Pháp phải bị động chuyển chiến lược sang đánh lâu dài. Chúng hy vọng dùng chiến tranh nuôi chiến tranh, bình định vùng chiếm đóng, lập ngụy quyền bù nhìn Bảo Đại, phát triển ngụy quân sẽ tập trung được lực lượng ra Bắc hòng lật lại thế cờ.

Trung ương Đảng đã nhìn thấy trước điều đó nên đầu năm 1948 đã đề ra chủ trương “biến hậu phương địch thành tiền phương ta” với phương châm “Du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ trợ” đẩy mạnh kháng chiến cả nước, phá chiến lược của địch, phá cuộc tiến công mùa đông ở Bắc Bộ và Bắc Khu 4…

Hai huấn lệnh cuối năm 1947 của anh Văn nói trên có tác dụng thúc đẩy hai phương thức tác chiến chiến lược. Trước mắt thì thực hiện tốt phương châm tác chiến chiến lược. Về tương lai ta cần đẩy mạnh vận động chiến mới có điều kiện chuyển giai đoạn chiến lược.

Để phát triển du kích chiến tranh, anh Văn đã chỉ đạo các liên khu nâng trình độ tác chiến lên quy mô lớn hơn, sáng tạo một hình thức mới ta tạm gọi là “chiến dịch du kích”. Về lực lượng gồm cả ba thứ quân của quân khu hoặc có tăng cường, nhưng chủ lực chưa làm được vai trò chủ yếu, hoạt động trong một thời gian nhất định tùy theo nhiệm vụ đề ra cho chiến dịch, có tổ chức lãnh đạo chỉ huy, chỉ đạo thống nhất nhằm thực hiện yêu cầu nhiệm vụ cụ thể. Đặc biệt năm 1948 và 1949, vừa để giữ chủ động chiến dịch, vừa để phá âm mưu của địch, các liên khu có vùng địch chiếm đóng trong cả nước đều nhằm tiến công vào các mục tiêu sâu trong hậu phương địch. Ở những hướng có tầm quan trọng thường xuyên thì lập mặt trận như: Mặt trận 3 (Trung du), Mặt trận Đường 4, Mặt trận Hà Nội – Đường 5 – Hải Phòng.

Luyện quân lập công là nhằm nâng cao trình độ chiến đấu công tác của bộ đội, trình độ chỉ huy của cán bộ đi đôi với việc tăng cường dần trang bị vũ khí. Qua năm 1949, ta còn tổ chức luyện quân lập công lần hai. Trong chiến đấu, bộ đội chủ lực cần phát triển cách đánh phục kích, tập kích đánh vận động nhỏ. Địch đối phó tăng cường bảo vệ đoàn xe, ta phải nâng trình độ tác chiến lên đánh cấp trung đoàn, trung đoàn tăng cường hay chuyển sang đánh vận động phục kích (1949).

Nói đánh vận động chiến, ta hiểu là đánh cả các cứ điểm. Để nghiên cứu đánh cứ điểm cỡ đại đội, anh Văn rất quan tâm nên rất chú ý chỉ đạo. Năm 1948, ta tổ chức đánh đồn như thật, dùng đội Com-măng-đô(1) làm quân xanh, giao cho Tiểu đoàn 11 do anh Vũ Yên làm Tiểu đoàn trưởng huấn luyện, sau đó giao cho Tiểu đoàn 11 đánh đồn Phủ Thông để thực nghiệm. Lần này trang bị vẫn giữ như hiện có, chưa có bộc phá, còn dùng thang ván và mác xung kích. Trận đánh diễn ra tiến bộ hơn, nhưng chưa dứt điểm được vì vào tung thâm địch có lô cốt cố thủ, ta không giải quyết được. Qua năm 1949, anh giao cho tiểu đoàn anh Thái Dũng nghiên cứu đánh cứ điểm Bản Trại trên đường 4, tiểu đoàn được trang bị súng SKZ và cối 185 do ta sản xuất. Anh trực tiếp kiểm tra công tác chuẩn bị và kế hoạch tác chiến. Tôi đi theo sát anh Thái Dũng từ khi chuẩn bị chiến trường, làm kế hoạch và chỉ huy suốt trận đánh. Kết quả rất tốt. Chỉ sau 45 phút, ta đã tiêu diệt gọn, thu toàn bộ vũ khí. Sau khi đem kinh nghiệm của hai tiểu đoàn nói trên huấn luyện cho cán bộ và bộ đội thì kết quả đã nâng được trình độ tác chiến của bộ đội lên nhiều, năm 1949 đã tiêu diệt cả một tiểu khu của địch. Tháng 5 năm 1950, Trung đoàn 174 tăng cường đã tiêu diệt được một cụm cứ điểm cỡ một tiểu đoàn tăng cường của địch trong công sự vững chắc (Đông Khê).

Kết quả năm 1948, chiến tranh du kích phát triển rộng khắp vào sâu trong vùng địch tạm kiểm soát, đánh cả những nơi chúng cho là an toàn nhất, diệt hàng loạt đồn bốt làm cho chúng bị thu hẹp vùng tạm chiếm, phải tăng quân và tăng công sự cho các cứ điểm. Chúng càng thiếu hụt quân số, giảm lực lượng cơ động, cả năm chỉ mở được một cuộc hành quân nhỏ lên trung du hòng bịt cửa ngõ của Việt Bắc, không thực hiện nổi một cuộc tấn công lớn lên căn cứ Việt Bắc lần thứ hai. Ta đã có thể tập trung trở lại các đại đội độc lập về thành lập các trung đoàn chủ lực, làm cho chủ lực ta lớn mạnh hơn nhiều.

Sau này anh Văn đã đánh giá vấn đề này như sau: Đưa chiến tranh vào vùng sau lưng địch là một chủ trương đúng đắn và sáng tạo trong lãnh đạo chiến tranh của ta. Chỉ một năm sau ngày Kháng chiến toàn quốc, lực lượng vũ trang còn rất non trẻ đã cùng toàn dân mở một cuộc phản công chiến lược “mềm” nhằm vào sào huyệt địch trên cả nước. Với việc “biến hậu phương địch thành tiền phương ta”, chúng ta đã làm đảo lộn thế cờ, tạo sự bình ổn cho hậu phương ta, biến hậu phương địch thành chiến trường… Mặt trận mới này còn cho phép chúng ta đánh những đòn trực diện vào chính sách cơ bản của thực dân xâm lược Pháp là “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt hại người Việt”(2).

Tôi nghĩ kinh nghiệm năm 1948 cho thấy lực lượng ta yếu hơn địch cũng có thể “đánh vào đất địch” trên nhiều hướng và là một phương sách giành chủ động về chiến dịch, chiến lược. Như sau này trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ta đã mở rộng, nâng cao thành một cuộc Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa Mậu Thân 1968 giành thắng lợi quyết định buộc Mỹ phải xuống thang chiến lược.

Về nghệ thuật chiến tranh nhân dân, “Chiến dịch du kích” là một hình thức sáng tạo. Nó có chỉ huy chỉ đạo thống nhất nhiều lực lượng phối hợp hiệp đồng với nhau (trong đó có thể có bộ phận nhỏ chủ lực không hoạt động vai trò lực lượng chủ yếu) đánh nhiều trận trong một thời gian nhất định, nhằm một mục đích rõ ràng trên một địa bàn cụ thể.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn