Từ xóm lao động Hải Phòng đến Hội Văn hóa cứu quốc, hành trình của nhà văn Nguyên Hồng
Nguyên Hồng là nhà văn lớn viết về những người nghèo khổ, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Ông lớn lên ở xóm lao động Hải Phòng, sớm nổi tiếng với “Bỉ vỏ” và “Những ngày thơ ấu”. Năm 1943, ông tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc bí mật cùng Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, đưa ngòi bút của mình vào dòng chảy của cách mạng.
Có những nhà văn đi vào lịch sử không chỉ bằng tài năng mà còn bằng tấm lòng dành cho những con người nhỏ bé nhất của xã hội. Nguyên Hồng là một nhà văn như vậy. Ông lớn lên giữa những lam lũ của xóm lao động nghèo ở thành phố cảng Hải Phòng, nếm trải cay đắng của tuổi thơ không êm đềm và dành cả cuộc đời để viết về những kiếp người cùng khổ. Từ đó, ông bước vào con đường cách mạng, góp ngòi bút của mình vào cuộc đấu tranh giành độc lập, và để lại một di sản văn học giàu tình thương cho đất nước.
Nguyên Hồng tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh ngày 5 tháng 11 năm 1918 tại Nam Định, nhưng phần lớn tuổi thơ và tuổi trẻ gắn với Hải Phòng. Ông sống trong một xóm lao động nghèo, chứng kiến cuộc sống của những người thợ, người buôn gánh bán bưng, những phụ nữ bị cuộc đời xô đẩy. Tuổi thơ của ông cũng nhiều nỗi đau mất mát, và những trải nghiệm ấy trở thành chất liệu đầy cảm xúc cho hồi ký “Những ngày thơ ấu”, nơi có những trang viết về tình mẫu tử khiến bao thế hệ học sinh rưng rưng.
Ông bắt đầu viết văn từ năm 1936 với truyện ngắn “Linh hồn”, rồi nổi tiếng với tiểu thuyết “Bỉ vỏ” năm 1937. Tác phẩm là bức tranh sinh động về thân phận những con người ở đáy xã hội, những người bị ruồng bỏ và khinh rẻ nhưng vẫn giữ trong mình khát vọng sống và tình người. Trong những năm 1936 đến 1939, khi phong trào Mặt trận Dân chủ dâng cao, Nguyên Hồng tham gia hoạt động ở Hải Phòng. Ông sống bằng nghề dạy học tư cho con em những gia đình lao động nghèo, nên hiểu rất rõ nỗi khổ của họ và càng thêm gắn bó với lý tưởng cách mạng.
Bước ngoặt quan trọng đến vào năm 1943. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và phát xít Nhật ngày càng lên cao, Đảng công bố Đề cương Văn hóa Việt Nam, xác định rằng văn hóa phải gắn với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Cũng trong năm ấy, Nguyên Hồng tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc bí mật, cùng những người bạn văn như Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng. Hoạt động trong điều kiện bí mật, dưới sự theo dõi của mật thám, họ đã chọn con đường dùng ngòi bút phục vụ cách mạng. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, và với ông, đi theo cách mạng là con đường tự nhiên của một người luôn đứng về phía những kiếp người đau khổ.
Sau Cách mạng tháng Tám, trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục sáng tác, trong đó có truyện vừa “Đêm giải phóng” năm 1951. Sau hòa bình, năm 1957, ông là một trong những hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam. Ông dành nhiều tâm huyết cho bộ tiểu thuyết bốn tập “Cửa biển” (1961, 1967, 1973, 1976), một bộ tiểu thuyết quy mô lớn viết về Hải Phòng, vùng đất đã nuôi dưỡng ông. Ông cũng gắn bó hơn ba mươi năm với vùng núi rừng Yên Thế ở Bắc Giang, quê hương của người anh hùng Hoàng Hoa Thám, và ấp ủ bộ tiểu thuyết lịch sử “Núi rừng Yên Thế” để ghi lại tinh thần đấu tranh bền bỉ của nhân dân nơi đây, dù tác phẩm chưa kịp hoàn thành.
Ông qua đời ngày 2 tháng 5 năm 1982. Năm 1996, Nhà nước truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Nhưng phần thưởng lớn hơn có lẽ là việc những trang văn của ông vẫn được độc giả nhiều thế hệ đọc và yêu mến. Ông được gọi là nhà văn của phụ nữ và trẻ em, và là người đã đưa số phận của những người dưới đáy xã hội vào trang văn bằng sự trân trọng và thương yêu.
Câu chuyện của Nguyên Hồng cho tôi hiểu rằng một nhà văn đóng góp cho lịch sử bằng cách cất lên tiếng nói của những người ít được lắng nghe, đồng thời dấn thân cùng dân tộc vào những thời khắc quyết định. Từ xóm lao động Hải Phòng đến Hội Văn hóa cứu quốc, ông đã đi một chặng đường dài bằng tình yêu thương và lý tưởng. Hôm nay, khi đọc lại những trang văn ấy, chúng ta nhớ rằng độc lập, tự do không chỉ được giành lại bằng chiến thắng, mà còn bằng lòng nhân ái đối với từng con người nhỏ bé của đất nước.



