Tua Hai – Trận đánh mở đầu phong trào Đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ năm 1960
Tua Hai – Trận đánh mở đầu phong trào Đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ năm 1960
Tua Hai (còn gọi là thành Lam Sơn hay thành Nguyễn Thái Học) nằm trên Quốc lộ 22 đi Kông pông Chàm (Campuchia), cách thị xã Tây Ninh 7 km, thuộc Trảng Sụp, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây vốn là một tháp canh cũ của quân đội Pháp. Năm 1956, Mỹ - Diệm xây dựng thành căn cứ đóng quân của Trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn 21 ngụy. Toàn bộ khuôn viên căn cứ nằm biệt lập với khu dân cư, căn cứ được địch bố phòng khá bài bản với bờ thành dày và cao, cùng hệ thống tháp canh, lô cốt, hàng rào kẽm gai xung quanh và lực lượng bảo vệ canh gác suốt ngày đêm.Lực lượng địch đóng trong căn cứ khoảng 1.694 tên (gồm 3 tiểu đoàn bộ binh và các đại đội trợ chiến). Trong số này, khi ta đánh Tua Hai, 180 tên đang hành quân an ninh trong dịp Tết, 200 tên ngủ tại khu gia binh, 424 tên biệt phái công tác xa, còn lại ở căn cứ 890 tên, có 343 tân binh[1]. Trung Đoàn trưởng là Thiếu tá Nguyễn Hữu Mân; Sở Chỉ huy nằm ở trung tâm căn cứ, phía Nam Sở Chỉ huy là Đại đội trọng pháo, các tiểu đoàn đóng ở phía Đông, Đông Bắc. Đây không đơn thuần là căn cứ trung đoàn mà còn là một trung tâm huấn luyện lính mới. Vì vậy trong căn cứ còn có các kho vũ khí để trang bị cho các đơn vị mới thành lập tung đi các nơi hoạt động. Hàng ngày đi tập, địch mang theo vũ khí, đêm đến súng được đưa vào kho khóa lại. Tua Hai là nơi ta có cơ sở mạnh hoạt động. Trong những dịp lễ Tết, dưới sự chỉ đạo của ta, hàng trăm binh sĩ đã bỏ về nhà. Một cơ sở của ta làm việc ở bộ phận quân lực. Vì vậy ta nắm thực lực quân số, vũ khí trang bị của địch trong căn cứ khá chắc. Một cơ sở khác của ta phụ trách thông tin liên lạc của Trung đoàn. Do đó diễn biến tình hình hàng ngày của địch ta đều biết hết. Trong căn cứ ta còn tổ chức một Chi bộ Đảng. Chi bộ này chịu sự lãnh đạo từ bên ngoài do một Huyện ủy viên có lúc là Tỉnh ủy viên chuyên trách phụ trách. 
Trận Tua Hai mở đầu phong trào mở đầu phong trào Đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ năm 1960. Ảnh Internet. Cuối 1959, Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 được triển khai tới các đảng bộ ở miền Nam. Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 15, Tỉnh ủy Tây Ninh đã báo cáo Xứ ủy Nam Bộ về tình hình Tua Hai và khí thế quần chúng trong tỉnh. Căn cứ thực tế tình hình, Xứ ủy chỉ thị cho Ban Quân sự Liên tỉnh miền Đông Nam Bộ đẩy mạnh hoạt động vũ trang và phải đánh cho được một trận lớn sôi động toàn Miền thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, đồng thời lấy vũ khí của địch trang bị cho các lực lượng vũ trang của ta. Tháng 1/1960, Hội nghị cán bộ Quân sự miền Đông Nam Bộ được tổ chức để bàn phương án thực hiện chỉ thị của Xứ ủy. Hội nghị quyết định đánh Tua Hai tạo quả đấm quân sự có sức nặng để hiệu triệu nhân dân đứng lên khởi nghĩa trong toàn Miền. Tham gia trận đánh có 3 đại đội bộ binh (C59, C60, C70), 1 đại đội đặc công (C80) trực thuộc Ban Quân sự Miền cùng lực lượng của địa phương (bộ đội tỉnh Tây Ninh, bộ đội huyện Châu Thành và dân quân du kích xã). Chỉ huy trận đánh có các đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến – Chỉ Huy trưởng, Mai Chí Thọ - Chính Trị viên, Lê Thanh – Chỉ Huy phó, Tham Mưu trưởng. Nhằm vào đêm 28 Tết (đêm 25 rạng 26/1/1960) khi binh lính địch đã về nghỉ Tết khá đông, ta nổ súng tiến công căn cứ. Theo kế hoạch đã dự kiến thì 23h30’ ngày 25/1/1960, ta sẽ nổ súng tiến công căn cứ. Song vào khoảng 23h, địch có lệnh tập hợp lực lượng trong căn cứ, cùng lúc có nhiều xe ô tô chở lính chạy từ hướng thị xã vào căn cứ. Tưởng kế hoạch đã bị lộ, Ban Chỉ huy trận đánh phải lui giờ nổ súng để nắm lại tình hình. Khi biết chắc chắn là kế hoạch vẫn được bảo đảm bí mật, đúng 0h30’ ngày 26/1/1960, cuộc tiến công bắt đầu. Chiến sĩ bộc phá của mũi 1 cho nổ quả bộc phá ở nhà Ban Chỉ huy Trung đoàn phát lệnh tiến công. Từ các mũi bộ đội ta đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu đã định. Mũi 1 và mũi 2 sau khi đánh Nhà chỉ huy Trung đoàn và khu nhà ngủ của sĩ quan, tiếp tục phát triển tiên công, phối hợp đánh vào khu doanh trại của Tiểu đoàn 1. Cùng lúc mũi 3 và mũi 4 ở hướng Nam cũng nhanh chóng dùng bộc phá và lựu đạn, thủ pháo tiến công vào nơi đóng quân của Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3, Khu quân xa, Đại đội trọng pháo.
Di tích Chiến thắng Tua Hai. Ảnh Internet. Bị đánh bất ngờ, địch hoảng loạn không kịp đối phó. Đại tá Nguyễn Hữu Có trong Bản phúc trình ngày 01/2/1960 đã thừa nhận: “Sức kháng cự của Tiểu đoàn 1 và 2 Trung đoàn 32 dường như không có vì bị tiến công bất ngờ và kho vũ khí bị chiếm… Sự kháng cự của Đại đội trọng pháo rất yếu ớt vì đa số binh sĩ không có súng”[2]. Sau 3 giờ ta hoàn toàn làm chủ căn cứ. Kết quả, ta diệt và làm tan rã các Tiểu đoàn 1 và 2, tiêu hao Tiểu đoàn 3, bắt giáo dục rồi thả tại chỗ 500 tù binh, thu gần 1.000 súng các loại. Địch thú nhận chúng chết và bị thương 76, mất 783 súng các loại[3]. Tua Hai là trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ vào lực lượng chủ lực ngụy, tiêu diệt được nhiều địch, thu được nhiều vũ khí. Chiến thắng Tua Hai đánh dấu bước phát triển mới về trình độ tổ chức, chỉ huy tác chiến của Lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ. Điều quan trọng hơn, chiến thắng mang ý nghĩa chính trị to lớn. Địch hoang mang không biết rõ thực lực của ta ra sao mà dám tiến công vào một căn cứ trung đoàn chủ lực mạnh của chúng. Chúng lo sợ căn cứ trung đoàn còn bị ta tiến công như vậy thì việc tiến công vào thị xã chắc cũng không khó khăn gì. Vì vậy, tên Tỉnh trưởng và nhiều tên ác ôn có nợ máu với nhân dân đêm đến phải trốn đi ngủ ở nơi khác sợ bị chủ lực của ta tiến công. Tua Hai thực sự là tiếng kèn hiệu lệnh cho cuộc nổi dậy đồng loạt không chỉ ở Tây Ninh mà cả miền Đông Nam Bộ. Tại Tây Ninh, Tua Hai đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng trong tỉnh. Thắng lợi của trận đánh Tua Hai đã chuyển phong trào ở Tây Ninh sang thế tiến công mạnh mẽ, rộng khắp, liên tục, đánh đổ chính quyền ngụy ở cơ sở, lập nên chính quyền cách mạng nhân dân. Ngay trong đêm Tua Hai bị diệt, đồn Vịnh ở xã Hảo Đước, địch rút chạy. Hôm sau vừa tổ chức nội ứng, vừa huy động lực lượng quần chúng, ta chiếm bốt Hòa Hiệp (Châu Thành), bốt Cầu Ván (Trảng Bàng). Nhiều đồn trên Đường 22 từ Tây Ninh đến biên giới Campuchia, trên Tỉnh lộ 3 và 4, địch hoang mang bỏ chạy. Trên đà thắng lợi, nhân dân ở nhiều nơi trong tỉnh vùng lên lấy đồn, giải phóng xã ấp. Chỉ một thời gian ngắn sau chiến thắng Tua Hai, quân dân Tây Ninh đã nhất tề đứng lên quét sạch bộ máy kìm kẹp của địch ở nông thôn, gỡ 30 đồn trong tổng số 60 đồn bốt của địch. Trong 49 xã ta đã giải phóng hoàn toàn 24 xã, giải phóng cơ bản 19 xã. Tề vệ tan rã từ 70 đến 80%. Lực lượng vũ trang Tây Ninh phát triển mạnh mẽ. Đầu tháng 2.1960, tỉnh đã thành lập Tiểu đoàn 14. Các huyện trong tỉnh thành lập các đại đội vũ trang (Đại đội 40 ở Châu Thành, Đại đội 41 ở Bến Cầu, Đại đội 33 ở Trảng Bàng, Đại đội 31 ở Dương Minh Châu, Đại Đội 2/45 ở Thị xã). Các xã xây dựng các đội du kích (có 44/49 xã lập đội du kích).
Hoạt động giáo dục lịch sử truyền thống tại Di tích Tua Hai. Ảnh Internet. Chiến thắng Tua Hai cùng với phong trào nổi dậy đồng loạt ở Tây Ninh đã cổ vũ, khích lệ các tỉnh khác ở miền Đông Nam Bộ vùng lên vũ trang khởi nghĩa giành quyền làm chủ về tay nhân dân. Tại Long An, nhân dân các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Lức, Tân Trụ, Cần Giuộc, Châu thành, Thủ Thừa đồng loạt nổi dậy giả phóng hoàn toàn 12 xã, phá lỏng và dần chuyển lên thế làm chủ với nhiều mức độ khác nhau ở 67 xã. Từ cuối 1960 đến tháng 3/1961, quân dân Long An đã làm tan rã hầu hết bộ máy chính quyền xã ấp của địch, tiêu diệt hàng chục đồn bốt, giải phóng hoàn toàn 29 xã và huyện Đức Huệ. Tại Thủ Dầu Một, ngày 31/1/1960, Tỉnh ủy họp và quyết định nổi dậy khởi nghĩa vào ngày 25/2/1960. Sau hơn 1 tháng kết hợp tiến công và nổi dậy, quân dân Thủ Dầu Một đã giải phóng hầu hết huyện Bến Cát, Bắc Châu Thành và một phần Lái Thiêu, Làm chủ hơn 40 ấp thuộc 25 xã và 10 làng công nhân cao su thuộc các Sở cao su Dầu Tiếng, Bến Cát, Ninh Hòa, Minh Thạnh, diệt hơn 100 tên tề điệp ác ôn, giải tán nhiều tổ dân vệ, bức rút, bức hàng hàng chục đồn, bốt địch, thu 300 súng các loại. Tại Bà Rịa, ngày 30/3/1960, Đại đội 40 (đơn vị vũ trang của tỉnh) tiến công đồn Bình Ba mở màn cho phong trào khởi nghĩa trong tỉnh. Phong trào diễn ra mạnh mẽ nhất ở hai huyện Long Đất và Xuyên Mộc. Đến tháng 4.1960, trên địa bàn tỉnh, nhiều nơi quần chúng nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kìm giành quyền làm chủ với nhiều mức độ khác nhau. Tại Biên Hòa, đầu tháng 2/1960, Tỉnh ủy họp và chủ trương sử dụng lực lượng vũ trang của tỉnh tiến hành một đợt vũ trang tuyên truyền, trọng điểm là 4 xã thuộc Chiến khu D là Thường Lang, Tân Tịch, Mỹ Hòa, Mỹ Lộc, đồng thời khẩn trương chuẩn bị lực lượng mở rộng địa bàn hoạt động xuống vùng giáp danh huyện Vĩnh Cửu. Đầu tháng 3/1960, với sự hỗ trợ của bộ đội tỉnh, nhân dân 4 xã đồng loạt nổi dậy diệt ác ôn, giành quyền làm chủ một vùng tương đối rộng, tạo bàn đạp phát triển xuống các vùng sâu. Đến giữa năm 1960, các cuộc đấu tranh nổi dậy và tiến công địch phát triển thành phong trào rộng khắp các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Nằm ở trung tâm địa bàn miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn – Gia Định cũng chịu tác động chung của phong trào nổi dậy đồng loạt ở các tỉnh. Từ giữa tháng 2/1960, nhiều vùng nông thôn ở Gia Định đã nổi dậy giành quyền làm chủ xóm ấp. Các huyện Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Gò Vấp, Duyên Hải, Thủ Đức nhất tề đứng dậy phá rã bộ máy kìm kẹp của địch ở nông thôn. Đến tháng 3.1960, quần chúng đã làm chủ các xã Phú Mỹ Hưng, Nhuận Đức và một số ấp thuộc các xã An Nhơn Tây, Trung Lập, Bắc Củ Chi. Ở nội thành Sài Gòn – Chợ Lớn, Khu ủy Sài Gòn Gia Định chủ trương đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị. Trọng tâm là mở chiến dịch tiến công dư luận chĩa mũi nhọn vào chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, kết hợp đòi quyên dân sinh dân chủ cho quần chúng lao động. Như vậy, đồng khởi ở Tây Ninh nói riêng, miền Đông Nam Bộ nói chung được khơi ngòi từ trận Tua Hai. Với hai ngọn cờ tiêu biểu là Bến Tre (ở đồng bằng sông Cửu Long) và Tây Ninh (ở miền Đông Nam Bộ), đồng khởi đợt đầu năm 1960 ở Nam Bộ đã làm tan rã một mảng lớn bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở, giành quyền làm chủ với nhiều mức độ khác nhau trên những vùng nông thôn rộng lớn. Với thắng lợi này, ta đã tạo bước chuyển biến trong phong trào cách mạng ở Nam Bộ. J. Rây (Jefrey Race) – nhà nghiên cứu chiến lược Mỹ, cố vấn quân sự cho Tỉnh trưởng Long An trong hồi ký Chiến tranh đến Long An đã viết: Vào đầu năm 1960, Đảng (Cộng sản) đã trở thành người cai trị trên những khu vực đáng kể của tỉnh Long An, dần nới rộng và củng cố quyền kiểm soát trong những năm tiếp sau[4]. Đó chính là kết quả lớn nhất mà đồng khởi mang lại./. [1] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh – Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Chiến thắng Tua Hai và phong trào đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H.1999, Tr.173, 174, 176.

Trận Tua Hai mở đầu phong trào mở đầu phong trào Đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ năm 1960. Ảnh Internet. Cuối 1959, Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 được triển khai tới các đảng bộ ở miền Nam. Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 15, Tỉnh ủy Tây Ninh đã báo cáo Xứ ủy Nam Bộ về tình hình Tua Hai và khí thế quần chúng trong tỉnh. Căn cứ thực tế tình hình, Xứ ủy chỉ thị cho Ban Quân sự Liên tỉnh miền Đông Nam Bộ đẩy mạnh hoạt động vũ trang và phải đánh cho được một trận lớn sôi động toàn Miền thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, đồng thời lấy vũ khí của địch trang bị cho các lực lượng vũ trang của ta. Tháng 1/1960, Hội nghị cán bộ Quân sự miền Đông Nam Bộ được tổ chức để bàn phương án thực hiện chỉ thị của Xứ ủy. Hội nghị quyết định đánh Tua Hai tạo quả đấm quân sự có sức nặng để hiệu triệu nhân dân đứng lên khởi nghĩa trong toàn Miền. Tham gia trận đánh có 3 đại đội bộ binh (C59, C60, C70), 1 đại đội đặc công (C80) trực thuộc Ban Quân sự Miền cùng lực lượng của địa phương (bộ đội tỉnh Tây Ninh, bộ đội huyện Châu Thành và dân quân du kích xã). Chỉ huy trận đánh có các đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến – Chỉ Huy trưởng, Mai Chí Thọ - Chính Trị viên, Lê Thanh – Chỉ Huy phó, Tham Mưu trưởng. Nhằm vào đêm 28 Tết (đêm 25 rạng 26/1/1960) khi binh lính địch đã về nghỉ Tết khá đông, ta nổ súng tiến công căn cứ. Theo kế hoạch đã dự kiến thì 23h30’ ngày 25/1/1960, ta sẽ nổ súng tiến công căn cứ. Song vào khoảng 23h, địch có lệnh tập hợp lực lượng trong căn cứ, cùng lúc có nhiều xe ô tô chở lính chạy từ hướng thị xã vào căn cứ. Tưởng kế hoạch đã bị lộ, Ban Chỉ huy trận đánh phải lui giờ nổ súng để nắm lại tình hình. Khi biết chắc chắn là kế hoạch vẫn được bảo đảm bí mật, đúng 0h30’ ngày 26/1/1960, cuộc tiến công bắt đầu. Chiến sĩ bộc phá của mũi 1 cho nổ quả bộc phá ở nhà Ban Chỉ huy Trung đoàn phát lệnh tiến công. Từ các mũi bộ đội ta đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu đã định. Mũi 1 và mũi 2 sau khi đánh Nhà chỉ huy Trung đoàn và khu nhà ngủ của sĩ quan, tiếp tục phát triển tiên công, phối hợp đánh vào khu doanh trại của Tiểu đoàn 1. Cùng lúc mũi 3 và mũi 4 ở hướng Nam cũng nhanh chóng dùng bộc phá và lựu đạn, thủ pháo tiến công vào nơi đóng quân của Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3, Khu quân xa, Đại đội trọng pháo.

Di tích Chiến thắng Tua Hai. Ảnh Internet. Bị đánh bất ngờ, địch hoảng loạn không kịp đối phó. Đại tá Nguyễn Hữu Có trong Bản phúc trình ngày 01/2/1960 đã thừa nhận: “Sức kháng cự của Tiểu đoàn 1 và 2 Trung đoàn 32 dường như không có vì bị tiến công bất ngờ và kho vũ khí bị chiếm… Sự kháng cự của Đại đội trọng pháo rất yếu ớt vì đa số binh sĩ không có súng”[2]. Sau 3 giờ ta hoàn toàn làm chủ căn cứ. Kết quả, ta diệt và làm tan rã các Tiểu đoàn 1 và 2, tiêu hao Tiểu đoàn 3, bắt giáo dục rồi thả tại chỗ 500 tù binh, thu gần 1.000 súng các loại. Địch thú nhận chúng chết và bị thương 76, mất 783 súng các loại[3]. Tua Hai là trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ vào lực lượng chủ lực ngụy, tiêu diệt được nhiều địch, thu được nhiều vũ khí. Chiến thắng Tua Hai đánh dấu bước phát triển mới về trình độ tổ chức, chỉ huy tác chiến của Lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ. Điều quan trọng hơn, chiến thắng mang ý nghĩa chính trị to lớn. Địch hoang mang không biết rõ thực lực của ta ra sao mà dám tiến công vào một căn cứ trung đoàn chủ lực mạnh của chúng. Chúng lo sợ căn cứ trung đoàn còn bị ta tiến công như vậy thì việc tiến công vào thị xã chắc cũng không khó khăn gì. Vì vậy, tên Tỉnh trưởng và nhiều tên ác ôn có nợ máu với nhân dân đêm đến phải trốn đi ngủ ở nơi khác sợ bị chủ lực của ta tiến công. Tua Hai thực sự là tiếng kèn hiệu lệnh cho cuộc nổi dậy đồng loạt không chỉ ở Tây Ninh mà cả miền Đông Nam Bộ. Tại Tây Ninh, Tua Hai đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng trong tỉnh. Thắng lợi của trận đánh Tua Hai đã chuyển phong trào ở Tây Ninh sang thế tiến công mạnh mẽ, rộng khắp, liên tục, đánh đổ chính quyền ngụy ở cơ sở, lập nên chính quyền cách mạng nhân dân. Ngay trong đêm Tua Hai bị diệt, đồn Vịnh ở xã Hảo Đước, địch rút chạy. Hôm sau vừa tổ chức nội ứng, vừa huy động lực lượng quần chúng, ta chiếm bốt Hòa Hiệp (Châu Thành), bốt Cầu Ván (Trảng Bàng). Nhiều đồn trên Đường 22 từ Tây Ninh đến biên giới Campuchia, trên Tỉnh lộ 3 và 4, địch hoang mang bỏ chạy. Trên đà thắng lợi, nhân dân ở nhiều nơi trong tỉnh vùng lên lấy đồn, giải phóng xã ấp. Chỉ một thời gian ngắn sau chiến thắng Tua Hai, quân dân Tây Ninh đã nhất tề đứng lên quét sạch bộ máy kìm kẹp của địch ở nông thôn, gỡ 30 đồn trong tổng số 60 đồn bốt của địch. Trong 49 xã ta đã giải phóng hoàn toàn 24 xã, giải phóng cơ bản 19 xã. Tề vệ tan rã từ 70 đến 80%. Lực lượng vũ trang Tây Ninh phát triển mạnh mẽ. Đầu tháng 2.1960, tỉnh đã thành lập Tiểu đoàn 14. Các huyện trong tỉnh thành lập các đại đội vũ trang (Đại đội 40 ở Châu Thành, Đại đội 41 ở Bến Cầu, Đại đội 33 ở Trảng Bàng, Đại đội 31 ở Dương Minh Châu, Đại Đội 2/45 ở Thị xã). Các xã xây dựng các đội du kích (có 44/49 xã lập đội du kích).

Hoạt động giáo dục lịch sử truyền thống tại Di tích Tua Hai. Ảnh Internet. Chiến thắng Tua Hai cùng với phong trào nổi dậy đồng loạt ở Tây Ninh đã cổ vũ, khích lệ các tỉnh khác ở miền Đông Nam Bộ vùng lên vũ trang khởi nghĩa giành quyền làm chủ về tay nhân dân. Tại Long An, nhân dân các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Lức, Tân Trụ, Cần Giuộc, Châu thành, Thủ Thừa đồng loạt nổi dậy giả phóng hoàn toàn 12 xã, phá lỏng và dần chuyển lên thế làm chủ với nhiều mức độ khác nhau ở 67 xã. Từ cuối 1960 đến tháng 3/1961, quân dân Long An đã làm tan rã hầu hết bộ máy chính quyền xã ấp của địch, tiêu diệt hàng chục đồn bốt, giải phóng hoàn toàn 29 xã và huyện Đức Huệ. Tại Thủ Dầu Một, ngày 31/1/1960, Tỉnh ủy họp và quyết định nổi dậy khởi nghĩa vào ngày 25/2/1960. Sau hơn 1 tháng kết hợp tiến công và nổi dậy, quân dân Thủ Dầu Một đã giải phóng hầu hết huyện Bến Cát, Bắc Châu Thành và một phần Lái Thiêu, Làm chủ hơn 40 ấp thuộc 25 xã và 10 làng công nhân cao su thuộc các Sở cao su Dầu Tiếng, Bến Cát, Ninh Hòa, Minh Thạnh, diệt hơn 100 tên tề điệp ác ôn, giải tán nhiều tổ dân vệ, bức rút, bức hàng hàng chục đồn, bốt địch, thu 300 súng các loại. Tại Bà Rịa, ngày 30/3/1960, Đại đội 40 (đơn vị vũ trang của tỉnh) tiến công đồn Bình Ba mở màn cho phong trào khởi nghĩa trong tỉnh. Phong trào diễn ra mạnh mẽ nhất ở hai huyện Long Đất và Xuyên Mộc. Đến tháng 4.1960, trên địa bàn tỉnh, nhiều nơi quần chúng nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kìm giành quyền làm chủ với nhiều mức độ khác nhau. Tại Biên Hòa, đầu tháng 2/1960, Tỉnh ủy họp và chủ trương sử dụng lực lượng vũ trang của tỉnh tiến hành một đợt vũ trang tuyên truyền, trọng điểm là 4 xã thuộc Chiến khu D là Thường Lang, Tân Tịch, Mỹ Hòa, Mỹ Lộc, đồng thời khẩn trương chuẩn bị lực lượng mở rộng địa bàn hoạt động xuống vùng giáp danh huyện Vĩnh Cửu. Đầu tháng 3/1960, với sự hỗ trợ của bộ đội tỉnh, nhân dân 4 xã đồng loạt nổi dậy diệt ác ôn, giành quyền làm chủ một vùng tương đối rộng, tạo bàn đạp phát triển xuống các vùng sâu. Đến giữa năm 1960, các cuộc đấu tranh nổi dậy và tiến công địch phát triển thành phong trào rộng khắp các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Nằm ở trung tâm địa bàn miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn – Gia Định cũng chịu tác động chung của phong trào nổi dậy đồng loạt ở các tỉnh. Từ giữa tháng 2/1960, nhiều vùng nông thôn ở Gia Định đã nổi dậy giành quyền làm chủ xóm ấp. Các huyện Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Gò Vấp, Duyên Hải, Thủ Đức nhất tề đứng dậy phá rã bộ máy kìm kẹp của địch ở nông thôn. Đến tháng 3.1960, quần chúng đã làm chủ các xã Phú Mỹ Hưng, Nhuận Đức và một số ấp thuộc các xã An Nhơn Tây, Trung Lập, Bắc Củ Chi. Ở nội thành Sài Gòn – Chợ Lớn, Khu ủy Sài Gòn Gia Định chủ trương đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị. Trọng tâm là mở chiến dịch tiến công dư luận chĩa mũi nhọn vào chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, kết hợp đòi quyên dân sinh dân chủ cho quần chúng lao động. Như vậy, đồng khởi ở Tây Ninh nói riêng, miền Đông Nam Bộ nói chung được khơi ngòi từ trận Tua Hai. Với hai ngọn cờ tiêu biểu là Bến Tre (ở đồng bằng sông Cửu Long) và Tây Ninh (ở miền Đông Nam Bộ), đồng khởi đợt đầu năm 1960 ở Nam Bộ đã làm tan rã một mảng lớn bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở, giành quyền làm chủ với nhiều mức độ khác nhau trên những vùng nông thôn rộng lớn. Với thắng lợi này, ta đã tạo bước chuyển biến trong phong trào cách mạng ở Nam Bộ. J. Rây (Jefrey Race) – nhà nghiên cứu chiến lược Mỹ, cố vấn quân sự cho Tỉnh trưởng Long An trong hồi ký Chiến tranh đến Long An đã viết: Vào đầu năm 1960, Đảng (Cộng sản) đã trở thành người cai trị trên những khu vực đáng kể của tỉnh Long An, dần nới rộng và củng cố quyền kiểm soát trong những năm tiếp sau[4]. Đó chính là kết quả lớn nhất mà đồng khởi mang lại./. [1] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh – Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Chiến thắng Tua Hai và phong trào đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H.1999, Tr.173, 174, 176.



