Bài viết

tuổi hai mươi

Những “tuổi hai mươi”- Ôi những tuổi hai mươi căng tràn nhựa sống, những tuổi hai mươi thật rực rỡ và đáng quý biết bao! Đó là những tuổi của niềm yêu và nỗi nhớ, là những tuổi của thanh xuân

Quảng Trị24/01/2026Đoàn Trần Mỹ Vân. (Lớp 8A - Trường THCS Quảng Hòa – Xã Nam Gianh – Tỉnh Quảng Trị.)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Chúng tôi đã không tiếc đời mình

Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi tổ quốc?”

Thanh Thảo

Những “tuổi hai mươi”- Ôi những tuổi hai mươi căng tràn nhựa sống, những tuổi hai mươi thật rực rỡ và đáng quý biết bao! Đó là những tuổi của niềm yêu và nỗi nhớ, là những tuổi của thanh xuân. Thế nhưng… xuyên suốt chiều dài của triền đê mang tên “Lịch sử”, liệu đã có biết bao “tuổi hai mươi” đã hòa vào núi, vào rừng, vào từng tấc đất, tấc đời để viết nên hai tiếng hồn thiêng “Dân Tộc”? Và liệu còn biết bao những con người “không ai nhớ mặt, đặt tên” đã mãi chôn vùi để dựng xây thành trì tổ quốc hôm nay?

Thế hệ chúng em không sinh ra vào một “Thời hoa lửa” nhưng em lại may mắn khi được sống trọn trong những giây phút ngập tràn “máu, lửa và hoa” trong những lời kể của bà ngoại- lời thì thầm của một thế hệ “không thể nào quên” đang thổi bùng trong em một ngọn lửa của lòng biết ơn, của niềm cảm phục về những tháng năm “không thể nào quên” của dân tộc. Bà ngoại em tên thật là Nguyễn Thị Lượng, bà sinh ngày 26, tháng 3, năm 1952 hiện sống tại xã Đồng Lê, tỉnh Quảng Trị. Bà từng là một cựu chiến binh, là nữ Thanh niên xung phong và là “Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân” trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ. Những danh hiệu, những huân chương cao cả lấp lánh trên ngực trái mà bà thường kể với chúng em với một giọng điệu đầy tự hào,… Và cả những vết sẹo không bao giờ phai... Tất cả, tất cả là những minh chứng thiêng liêng nhất cho sự hy sinh cao cả, cho sự dũng cảm, quật cường của một thế hệ đã chiến đấu hết mình để đổi lấy hai tiếng “Hòa Bình” hôm nay.

Ngày còn bé, những câu chuyện của bà có lẽ là từng đốm lửa đỏ hồng nhen lên trong tâm hồn của đứa trẻ năm ấy sự ngưỡng mộ, biết ơn và tự hào xiết bao về những trang sử vẻ vang của dân tộc. Bà kể lại: khi tiếng gọi Tổng động viên vang lên khắp mọi miền đất nước, tuổi đôi mươi ấy bà đã quyết định trở thành nữ thanh niên xung phong, quyết định gác lại tuổi xuân rực rỡ để lên đường tham gia kháng chiến. Sự ra đi ấy không chỉ là một lựa chọn mà là trách nhiệm với quyết định sẵn sàng gửi lại tuổi xuân tươi đẹp cho đất nước. Khi bà kể về năm tháng rực rỡ của mình, bà đã trải lòng: “Bước vào chiến tuyến, bà cùng các đồng đội đã xác định: được trở về là một điều xa xỉ và mỗi mét chiến hào đều phải cố gắng bám trụ cho bằng được”. Giữa ranh giới tồn vong,bà đã tận mắt chứng kiến những người đồng đội thân thiết của mình lần lượt nằm xuống giữa núi rừng biên cương. Nói đến đây, giọng bà nghẹn lại... Và trái tim em cũng từ từ thổn thức. Còn gì đau đớn hơn, xót xa hơn và ám ảnh hơn khi phải chứng kiến những cái nhìn trăn trối như gửi gắm cả tương lai của những người đồng đội đã ngã xuống giữa độ tuổi đẹp nhất? Trong thời khói lửa nhuộm đỏ bầu trời tự do,đồng đội giống như những người anh em ruột thịt ,đó là mái nhà chung của mỗi chiến sĩ. Ấy thế mà: “chúng nó bắn phá ác liệt lắm,từng tấc đất đều nhuốm đỏ máu,ngày ngày qua đi số lượng các chiến sĩ lại càng giảm ”.

Thuở mới bước chân vào tiểu đoàn, bà vô cùng bỡ ngỡ và rụt rè vì với vô vàn những điều xa lạ Nhưng chính những người đồng chí đã giúp bà vượt qua những khó khăn, thiếu thốn giữa núi rừng Trường Sơn. Bà kể rằng: “Nước ta lúc đó vừa nghèo, vừa đói, vũ khí lại còn thô sơ.Những chiến sỹ của ta chỉ có da bọc xương, trong khi quân địch tên nào tên nấy đều cao to vạm vỡ, súng ống đủ đầy”. Thế nhưng, dẫu thiếu thốn trăm bề, dẫu cho “áo anh rách vai”, “quần tôi có vài mảnh vá”, dẫu cho “miệng cười buốt giá”, “chân không giày” (Trích “Đồng chí”- Chính Hữu) thì những người đồng chí vẫn “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Nhìn đôi mắt run run lấp lánh ánh nước của bà khi nhớ lại tình đồng đội năm nào, em càng biết ơn và cảm phục biết bao những tình cảm đẹp trong những năm kháng chiến khốc liệt.

Chiến tranh bao giờ cũng đi kèm với những mất mát, thương đau.Thế nhưng tận cùng của sự đau thương chính là khi đế quốc Mỹ đã rải hơn 80 lít thuốc diệt cỏ xuống từng tấc đất, ngọn cỏ, nhành cây với phần lớn là chất màu da cam- thứ hóa chất đã tàn sát biết bao thế hệ. Cùng với đó là việc sử dụng nhiều thứ vũ khí hạng nặng cùng những loại bom có tính sát thương cao đã khiến cho nhiều chiến sĩ phải hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ: “khi bà ở nơi chiến tuyến, niềm hy vọng được quay về với gia đình rất mong manh, chỉ có một niềm tin duy nhất, tin răng rằng đất nước sẽ giành được độc lập. Đó chính là ngọn lửa thôi thúc sự chiến đấu mạnh mẽ trong mỗi người lính. Chỉ niềm hy vọng ấy mới có thể tiếp thêm sức mạnh để người lính kiên trì vượt qua những gian lao của chiến tranh khốc liệt”. Bà còn bảo: “hằng ngày chúng nó thả không biết bao bom đạn, khói lửa mịt mù nhưng các ông bà vẫn cố gắng đứng vững giành lấy từng mét hào. Đã thế, chúng còn từ trên cao rải xuống hàng trăm tấn hóa chất, chúng không chỉ muốn tàn sát thế hệ của ông bà, mà còn muốn tàn sát luôn những thế hệ tương lai của đất nước. Bọn chúng... bọn chúng tàn ác đến thế đấy”- Bà vừa kể, vừa khóc.

Trong những năm tháng “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, biết bao thế hệ đã hòa xương máu vào núi, vào rừng để dựng nên kỳ đài phấp phới tung bay giữa bầu tự do. Đau thương nối tiếp thương đau... Những nỗi đau ấy vẫn cứ chảy mãi không ngừng qua biết bao thế hệ. Chiến tranh đã dần lùi xa, nhưng những vết thương vẫn còn đó, những mất mát vẫn còn đó. Chúng không lành lại và cũng chẳng thể nào lành lại, mà có lẽ, sẽ hằn lên mãi mãi trong trái tim của những người đã từng đi qua. Mỗi chiến công, mỗi tấm huân chương mà em được ngắm nhìn hôm nay, có chăng là những minh chứng rõ ràng nhất, rằng không chỉ bà, không chỉ thế hệ của bà, mà còn biết bao, biết bao những con người đã nguyện hiến dâng trọn đời cho đất nước. Mà như nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung đã từng chắp bút nên câu:

Cha ông ta ngày xưa ngã xuống để cho đời ta ngày sau đổi lấy hòa bình. Giữa khói binh, ai cũng nguyện lòng hy sinh...” Trích “ Viết tiếp câu chuyện hòa bình”.

Và giờ đây, “Viết tiếp câu chuyện hòa bình” không chỉ còn là một lời hát, mà còn là sứ mệnh của thế hệ trẻ chúng cháu để tiếp nối những trang sử còn đang dang dở của dân tộc. “Viết tiếp câu chuyện hòa bình” hôm nay, không chỉ là sẵn sàng cầm súng để bảo vệ tổ quốc, mà còn cầm bút để viết tiếp hành trình trong “Kỷ nguyên vươn mình” của non sông. Phải làm sao để đất nước hôm nay “sánh ngang với các cường quốc năm châu” trên tất cả các lĩnh vực. Và phải làm sao để công lao của những người “không ai nhớ mặt, đặt tên” vẫn mãi được tiếp nối, chứ không phải chỉ còn là vết sương mờ vùi lấp bởi thời gian. Đó là trách nhiệm là sứ mệnh thiêng liêng mà thế hệ chúng cháu đang viết tiếp để làm rực cháy thêm “Thời hoa lửa” của những thế hệ đã trao truyền qua bao tháng năm...Các thế hệ trẻ hôm nay hãy cùng nhau chăm chỉ học tập và rèn luyện tốt để tương lai đóng góp sức trẻ của mình vào sự nghiệp phát triển của dân tộc.//

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn