Tuổi hai mươi và sự lựa chọn của trái tim
Tuổi hai mươi và sự lựa chọn của trái tim
Ông tôi sinh năm 1950, giữa vùng quê lúa Đông Hưng, Thái Bình thanh bình. Năm 1970, khi vừa tròn 20 tuổi – cái tuổi đẹp nhất của đời người, khi bao mơ ước về học hành, lập nghiệp và yêu đương đang hăm hở nở rộ, ông lại chọn cho mình một con đường khác: con đường ra chiến trường.
Bà cố thường kể lại rằng, ngày ông khoác ba lô đi, đường làng quê lúa trải dài trong sương sớm. Bà chỉ biết ôm chặt lấy đứa con trai của mình rồi nghẹn ngào dặn: “Đi thì nhớ giữ mình, con nhé!”. Ông mỉm cười, nụ cười hiền hậu của chàng trai quê lúa, bảo mẹ đừng lo, vì: "Con còn trẻ, còn khỏe, con đi để đất nước được yên bình mai sau". Những lá thư ông gửi về không nhiều, giấy đã vàng võ theo thời gian nhưng lá nào cũng tràn đầy tinh thần lạc quan. Ông kể về những trận hành quân xuyên rừng, về những đêm đốt lửa làm bạn với gió núi, về tình đồng đội ấm áp dù bom đạn đang rình rập. Ông viết: “Chiến tranh ác liệt thật, nhưng mẹ đừng buồn. Con còn sống là con còn chiến đấu”. Đọc những dòng chữ ấy, tôi như thấy hiện lên khí phách của cả một thế hệ "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Theo lời kể của những đồng đội may mắn trở về, ông Ruệ là một người lính vô cùng gan dạ và trách nhiệm. Trong mỗi trận đánh, ông luôn xung phong đi trước để bảo vệ đội hình. Có lần đơn vị hành quân qua một bãi đồi bị máy bay địch phát hiện, bom dội xuống xối xả, ông đã không ngần ngại quay lại cõng một đồng đội bị thương ra khỏi vùng hiểm nguy. Đồng đội kể, đó là lần hiếm hoi họ thấy ông run lên vì sợ, nhưng đôi chân vẫn kiên quyết không bỏ bạn lại phía sau.
Rồi một ngày định mệnh vào năm 1970, ông không bao giờ trở về nữa. Tin báo tử đến trong một buổi chiều mưa xám xịt phủ bóng lên làng quê. Bà cố ôm tờ giấy báo vào lòng rồi ngã quỵ ngay cửa nhà, kể từ đó mái tóc bà bạc đi rất nhanh. Đơn vị cho biết, ông hy sinh trong một trận đánh giữ chốt quan trọng ở miền Đông Nam Bộ. Trước khi ngã xuống, ông vẫn cố sức kéo đồng đội vào hầm trú ẩn, còn mình thì chạy ra bên ngoài đánh lạc hướng hỏa lực địch. Ông ra đi ở tuổi đôi mươi – cái tuổi mà sự sống đang tràn trề nhựa sống nhất. Nhưng chính sự ra đi ấy đã khiến tên ông được khắc vào bia tưởng niệm của xã, ghi nhận một tâm hồn quả cảm đã lấy cái chết để đổi lấy sự sống cho đồng bào.
Tôi sinh ra khi chiến tranh đã lùi xa nhiều thập kỷ. Thế nhưng mỗi lần nghe bà cố nhắc về ông, lòng tôi lại thấy như có một tiếng chuông khẽ rung lên. Tôi chỉ biết hình dung về ông qua tấm ảnh cũ được ép dưới mặt kính bàn thờ - một chàng trai gương mặt hiền lành, đôi mắt sáng và nụ cười rạng rỡ.
Mỗi dịp tháng Bảy, đứng trước hàng trăm tấm bia trắng trải dài tại nghĩa trang liệt sĩ, tôi chợt hiểu rằng ông tôi không đơn độc. Biết bao người trẻ đã ngã xuống như ông. Biết bao thanh xuân đã hóa thành đất đỏ, thành cỏ xanh, thành bình yên cho đất nước hôm nay. Có lần tôi hỏi bà cố: “Ngày ấy, bà có giận ông không? Vì sao ông lại chọn ra chiến trường để rồi không trở về?". Bà chỉ khẽ lắc đầu, đôi mắt đã mờ đục nhưng ánh lên vẻ tự hào:
"Giận sao được con. Con người ta sinh ra đâu chỉ vì gia đình nhỏ, mà còn vì cái nhà lớn là đất nước này. Ông con chọn như thế, bà thương lắm, nhưng cũng mừng cho con của bà đã sống một đời có ý nghĩa."
Câu nói ấy khiến tôi hiểu ra rằng hy sinh lớn nhất không chỉ thuộc về người lính, mà còn thuộc về những người ở lại. Hòa bình này được xây đắp bằng máu xương của những người lính tuổi 20 và bằng cả sự cam chịu mất mát vĩ đại của những người mẹ Việt Nam.
Là một học sinh lớp 9, tôi thấy trách nhiệm của mình càng lớn lao hơn bao giờ hết. Tôi không thể cầm súng chiến đấu như ông, nhưng tôi có thể "chiến đấu" với những bài toán khó, những trang sách đầy tri thức. Tôi sẽ sống thật tốt, học tập chăm chỉ, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh – đó cũng chính là cách tôi tri ân ông Nguyễn Ngọc Ruệ và những liệt sĩ đã nằm lại nơi chiến trường.
Ông tôi đã hy sinh, nhưng tinh thần của ông vẫn luôn là ngọn đuốc soi sáng con đường tôi đi. Đất nước này được xây nên từ màu xương của những người anh hùng, và tôi sẽ sống sao cho thật đẹp, thật ý nghĩa để không phụ lòng người liệt sĩ mà tôi vô cùng tự hào.



