Cựu chiến binh

Tuổi thơ mồ côi đến con đường cách mạng

khánh

TP. Hồ Chí Minh22/08/2026xã Bắc Thanh Miện (Xã Bắc Thanh Miện)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Dương Văn Dương, thường được gọi thân mật Ba Dương, sinh năm 1900 trong một gia đình nông dân nghèo. Ông vốn họ Ngô, sau do cha bị bệnh mất sớm nên ông đổi sang họ mẹ, khi mới ba tháng tuổi.  

Bấy giờ, vì hoàn cảnh gia đình quá nghèo, anh em ông sớm phải nghỉ học ở trường. Ba Dương tự lăn lộn kiếm sống, nuôi một bầy vịt mấy nghìn con, lùa qua các cánh đồng lúa chín vừa gặt xong từ Nhà Bè, Cần Giờ qua Cần Giuộc, Cần Đước, rồi Vàm Láng… để chúng ăn lúa rơi vãi. Vốn mê võ nghệ, ông nghe ở đâu có thầy giỏi võ là tìm tới thọ giáo, vừa học ông vừa nghiên cứu và luyện thêm những chiêu thức. Sau này, ông mở lò dạy võ cho con em nhà nghèo, uy danh nổi khắp giới giang hồ Sài Gòn - Chợ Lớn và Nam Kỳ. Ông chủ trương và chỉ bảo đàn em làm ăn lương thiện, bênh vực người yếu thế, giúp đỡ người nghèo. Vì vậy, dù là tay “anh chị” giang hồ cộm cán, nhưng Ba Dương được coi là một người dễ gần, thân thiện, có mối giao du rộng rãi và giàu lòng vị tha, nhân ái.

Theo lời kể của nhà văn Nguyên Hùng, thuở Dương Văn Dương mới vào đời xuôi ngược sông rạch phố chợ làm đủ nghề kiếm sống, võ nghệ chưa có gì, nhưng bản tính rất gan dạ nghĩa hiệp chẳng biết sợ ai. Khi đã chinh phục giới giang hồ nghĩa hiệp, tập hợp lực lượng, Dương Văn Dương trở thành chỉ huy lực lượng Bình Xuyên đánh Pháp tái xâm lược. Để có lương thực thực phẩm nuôi quân, ông phải huy động mọi nguồn lực, vận động những người giàu có lẫn “đại ca” thế lực ngầm.  

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 thất bại và bị khủng bố trắng. Giặc Pháp truy lùng, đàn áp khốc liệt. Dương Văn Dương bị bắt giam hai lần vào năm 1941. Thời gian ở trong tù, Dương Văn Dương có dịp tiếp xúc với các bạn tù chính trị cách mạng. Quý mến, cảm phục bản lĩnh, nhân cách, tinh thần vì đại cục của họ, nên ông chủ động làm quen và dần được họ cảm hóa, thức tỉnh lòng yêu nước thương nòi trước họa ngoại xâm.

Thoát khỏi tù ngục, nhằm tránh sự theo dõi của chính quyền thực dân, Dương Văn Dương đi lánh mặt tận vùng biên giới Việt Nam - Campuchia. Ông tiếp tục rèn luyện võ nghệ, tìm hiểu thuốc Nam chữa bệnh do bị tra tấn. Sang đầu năm 1943, ông trở về Tân Quy, Nhà Bè và được những đảng viên Cộng sản như Ba Của, Hai Lân, Tư Huệ móc nối giác ngộ cách mạng. Đây là bước ngoặt quan trọng cuộc đời ông. Ba Dương tận dụng các mối quan hệ, thầu bảo vệ bãi chứa gỗ của Hãng đóng tàu Nichinan của Nhật Bản ở Sài Gòn để làm cơ sở hoạt động bí mật. Tại địa chỉ này, ông đã liên lạc, thuyết phục, quy tụ các nhóm giang hồ hảo hán và truy tìm, cất giấu vũ khí chuẩn bị cho những hành động vì nghĩa lớn.

Phong trào yêu nước ở Nam Kỳ ngày càng dâng cao. Thực dân Pháp vội vàng ban bố tình trạng khẩn cấp. Chúng xua quân truy lùng bắt bớ những người gọi là phần tử nguy hiểm, từ những người Cộng sản, Quốc dân đảng cho tới các chức sắc tôn giáo… và cả dân giang hồ. Dương Văn Dương lại phải trốn tránh về lánh mặt ở Cần Giuộc, nhưng do chỉ điểm, nên ông bị bắt giải về giam ở quận. Xét thấy Ba Dương không có tội trạng đáng ngờ nên chúng lập tức thả ông ra.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Cơ hội đã đến. Nhờ sự bàn bạc tư vấn của các cán bộ cách mạng, Dương Văn Dương nhanh chóng vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ đi vào hoạt động có tổ chức. Ông cho mở tiệm cơm, quán nhậu nhằm thu hút quân lính Pháp và Nhật để mua vũ khí hoặc dùng mưu kế để tước vũ khí của chúng trang bị cho quân mình. Ông còn chỉ huy lực lượng của mình phối hợp với Thanh niên Tiền phong, tổ chức đột nhập tận nhà những tên tay sai ác ôn, mật thám, chỉ điểm nhiều nợ máu nhân dân để tước súng và trừng trị chúng.

Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, thông qua Chi bộ Đảng Cộng sản ở Nhà Bè, Dương Văn Dương nhận được chủ trương của Xứ ủy Nam Kỳ. Ông bí mật tập hợp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ, khích lệ tinh thần yêu nước và cách mạng vì đại nghĩa, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động trên địa bàn Nhà Bè và cả Sài Gòn, đóng góp vào tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở đô thị lớn nhất phương Nam.

Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, quân Pháp núp bóng quân Đồng minh quay trở lại xâm lược nước ta. Nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến. Dương Văn Dương  thuyết phục đi đến thống nhất các nhóm nghĩa sĩ giang hồ ở Nhà Bè thành một khối và lấy tên là Bình Xuyên. Danh xưng “Bộ đội Bình Xuyên” chính thức xuất hiện. Bộ đội Bình Xuyên do Dương Văn Dương làm Chỉ huy trưởng, quân số lên đến 2.000 người, trang bị 1.300 khẩu súng, có 2 khẩu đại bác, 7 khẩu trọng liên 13,2mm, 15 khẩu trung liên. Khi tới thăm hỏi, động viên quân lính, Ba Dương luôn kêu gọi lực lượng Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn