Cựu chiến binh

Tuổi thơ ở Quảng Bình

Tôi tên là Nguyễn Văn Bình, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Bình – nơi từng được gọi là "tuyến lửa" trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nay tôi đã ngoài bảy mươi tuổi. Mỗi lần nhìn đàn cháu tung tăng cắp sách đến trường, lòng tôi lại nhớ về tuổi thơ của mình. Đó là một tuổi thơ không có nhiều đồ chơi, không có những buổi chiều vô tư rong chơi trên cánh đồng, mà gắn liền với tiếng bom, tiếng máy bay và những căn hầm trú ẩn. Tôi sinh năm 1954. Khi còn rất nhỏ, quê hương đã bước vào những năm tháng chiến tranh ác liệt. Quảng Bình nằm ở vị trí đặc biệt, là cửa ngõ nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam. Vì thế, nơi đây thường xuyên trở thành mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ. Tôi còn nhớ rất rõ ngôi nhà tranh nhỏ của gia đình nằm bên dòng sông Nhật Lệ. Trước sân là hàng cau, phía sau là vườn khoai, luống sắn và mấy bụi chuối. Những ngày yên tiếng bom, mẹ vẫn trồng rau, cha ra đồng cày cấy. Cuộc sống tuy nghèo nhưng đầm ấm. Nhưng rồi chiến tranh ngày càng ác liệt. Tiếng còi báo động trở thành âm thanh quen thuộc. Chỉ cần nghe tiếng còi vang lên, mọi người đang làm việc gì cũng lập tức chạy xuống hầm trú ẩn. Trẻ con như chúng tôi được người lớn dặn đi dặn lại rằng phải luôn nhớ đường xuống hầm nhanh nhất. Trường học của tôi chỉ là những căn nhà tranh đơn sơ. Mỗi lớp đều đào hầm ngay bên cạnh. Có hôm đang học bài, thầy giáo vừa viết được vài dòng trên bảng thì tiếng máy bay đã rít trên bầu trời. Thầy bình tĩnh hô: "Các em xuống hầm!" Cả lớp ôm cặp sách chạy thật nhanh. Trong hầm tối om, chúng tôi nắm chặt tay nhau. Mặt đất rung lên từng hồi vì những tiếng bom nổ. Đất cát rơi xuống tóc, xuống vai. Có bạn sợ hãi khóc nức nở. Thầy giáo ngồi cạnh nhẹ nhàng động viên từng em. Khi tiếng bom ngừng, mọi người lại bước lên. Có hôm mái lớp bị tốc mất, cửa sổ gãy đổ, bảng đen rơi xuống đất. Nhưng chỉ vài ngày sau, dân làng lại cùng nhau dựng lại lớp học để chúng tôi tiếp tục đến trường. Việc học khi ấy rất thiếu thốn. Một cuốn vở phải viết kín cả h

Phú Thọ07/08/2026Xã Hữu Kiệm (Đoàn xã Hữu Kiệm)17 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tuổi thơ ở Quảng Bình

Tôi tên là Nguyễn Văn Bình, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Bình – nơi từng được gọi là "tuyến lửa" trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Nay tôi đã ngoài bảy mươi tuổi. Mỗi lần nhìn đàn cháu tung tăng cắp sách đến trường, lòng tôi lại nhớ về tuổi thơ của mình. Đó là một tuổi thơ không có nhiều đồ chơi, không có những buổi chiều vô tư rong chơi trên cánh đồng, mà gắn liền với tiếng bom, tiếng máy bay và những căn hầm trú ẩn.

Tôi sinh năm 1954. Khi còn rất nhỏ, quê hương đã bước vào những năm tháng chiến tranh ác liệt. Quảng Bình nằm ở vị trí đặc biệt, là cửa ngõ nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam. Vì thế, nơi đây thường xuyên trở thành mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ.

Tôi còn nhớ rất rõ ngôi nhà tranh nhỏ của gia đình nằm bên dòng sông Nhật Lệ. Trước sân là hàng cau, phía sau là vườn khoai, luống sắn và mấy bụi chuối. Những ngày yên tiếng bom, mẹ vẫn trồng rau, cha ra đồng cày cấy. Cuộc sống tuy nghèo nhưng đầm ấm.

Nhưng rồi chiến tranh ngày càng ác liệt.

Tiếng còi báo động trở thành âm thanh quen thuộc. Chỉ cần nghe tiếng còi vang lên, mọi người đang làm việc gì cũng lập tức chạy xuống hầm trú ẩn. Trẻ con như chúng tôi được người lớn dặn đi dặn lại rằng phải luôn nhớ đường xuống hầm nhanh nhất.

Trường học của tôi chỉ là những căn nhà tranh đơn sơ. Mỗi lớp đều đào hầm ngay bên cạnh. Có hôm đang học bài, thầy giáo vừa viết được vài dòng trên bảng thì tiếng máy bay đã rít trên bầu trời. Thầy bình tĩnh hô:

"Các em xuống hầm!"

Cả lớp ôm cặp sách chạy thật nhanh. Trong hầm tối om, chúng tôi nắm chặt tay nhau. Mặt đất rung lên từng hồi vì những tiếng bom nổ. Đất cát rơi xuống tóc, xuống vai. Có bạn sợ hãi khóc nức nở. Thầy giáo ngồi cạnh nhẹ nhàng động viên từng em.

Khi tiếng bom ngừng, mọi người lại bước lên. Có hôm mái lớp bị tốc mất, cửa sổ gãy đổ, bảng đen rơi xuống đất. Nhưng chỉ vài ngày sau, dân làng lại cùng nhau dựng lại lớp học để chúng tôi tiếp tục đến trường.

Việc học khi ấy rất thiếu thốn. Một cuốn vở phải viết kín cả hai mặt giấy. Chiếc bút chì ngắn chỉ còn bằng ngón tay vẫn cố dùng cho đến khi không cầm được nữa. Sách giáo khoa được anh chị truyền lại cho các em.

Buổi chiều tan học, tôi không có thời gian vui chơi nhiều. Tôi theo mẹ ra đồng nhổ cỏ, trồng khoai, trồng sắn. Những luống khoai, củ sắn đã nuôi lớn biết bao gia đình Quảng Bình trong những năm tháng gian khó.

Có những ngày cả nhà chỉ có nồi cháo loãng với vài củ khoai luộc. Thế nhưng chưa bao giờ cha mẹ than phiền. Cha luôn nói:

"Còn được ăn, còn được sống, còn được học là còn hy vọng."

Cha tôi tham gia lực lượng dân quân tự vệ. Ban ngày sản xuất, ban đêm cha cùng bà con san lấp hố bom, sửa đường và trực chiến. Có nhiều đêm cha đi từ chập tối đến gần sáng mới về. Có hôm nhiều ngày liền cha không về nhà vì phải làm nhiệm vụ.

Mẹ vừa chăm sóc gia đình, vừa tham gia hợp tác xã. Tôi thương mẹ lắm. Đôi vai mẹ lúc nào cũng oằn xuống vì gánh nước, gánh lúa và gánh cả nỗi lo cho chồng con giữa chiến tranh.

Điều khiến tôi nhớ nhất là tình người.

Sau mỗi trận bom, cả làng chẳng ai bảo ai, tất cả đều chạy đi giúp những gia đình bị sập nhà. Người có tre góp tre, người có lá góp lá. Ai có gạo chia gạo. Ai có khoai chia khoai. Không ai để hàng xóm phải chịu đói một mình.

Có lần, một quả bom rơi xuống đầu làng. Khi khói bụi tan đi, mọi người lập tức lao vào cứu người. Những bàn tay đầy bùn đất đã đào bới từng tảng đất, từng thanh gỗ để tìm người bị vùi lấp. Tôi khi ấy còn nhỏ nhưng cũng chạy theo người lớn, mang nước và phụ nhặt gạch đá.

Tôi còn nhớ những đoàn xe chở hàng vào Nam chạy suốt đêm. Người dân Quảng Bình mang nước uống, sắn luộc, khoai nướng ra ven đường gửi các chú bộ đội. Các chú luôn nở nụ cười thật tươi và dặn:

"Ráng học giỏi nhé! Mai này đất nước hòa bình sẽ đẹp lắm."

Lời dặn ấy theo tôi suốt cuộc đời.

Những năm cuối chiến tranh, bom đạn vẫn còn ác liệt nhưng niềm tin chiến thắng ngày một lớn. Người dân Quảng Bình kiên cường bám đất, bám làng, vừa sản xuất vừa phục vụ tiền tuyến.

Rồi mùa xuân năm 1975 cũng đến.

Tin đất nước thống nhất lan khắp làng quê. Mọi người ôm chầm lấy nhau trong niềm vui vỡ òa. Có người khóc vì hạnh phúc. Có người lặng lẽ nhìn lên bầu trời như nhớ về những người thân đã không còn trở về.

Sau chiến tranh, quê hương bắt đầu hồi sinh.

Những hố bom dần được lấp đầy.

Những cánh đồng lại xanh màu lúa.

Những cây cầu mới được xây dựng.

Những ngôi trường khang trang mọc lên trên nền đất cũ.

Con đường đất đỏ năm xưa nay đã trải nhựa.

Tiếng bom không còn nữa.

Thay vào đó là tiếng chim hót mỗi sớm mai.

Tiếng trống trường rộn ràng.

Tiếng cười của trẻ nhỏ.

Giờ đây, mỗi lần trở lại ngôi trường cũ, tôi vẫn nhớ những người thầy đã dạy chúng tôi giữa mưa bom bão đạn. Tôi nhớ cha mẹ, nhớ bà con làng xóm đã cùng nhau vượt qua những năm tháng gian lao.

Tuổi thơ của tôi tuy thiếu thốn nhưng chưa bao giờ thiếu tình yêu thương.

Chiến tranh đã cướp đi nhiều điều, nhưng cũng dạy chúng tôi biết yêu quê hương, biết quý trọng từng bữa cơm, từng trang sách và từng ngày được sống trong hòa bình.

Hôm nay, khi kể lại câu chuyện này, tôi không mong các cháu chỉ nhớ đến bom đạn hay mất mát.

Điều tôi mong nhất là các cháu hiểu rằng hòa bình là điều vô cùng quý giá.

Các cháu hãy học tập thật tốt, sống nhân ái, đoàn kết và góp phần xây dựng quê hương Quảng Bình cũng như đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

Đó chính là cách đẹp nhất để tri ân những thế hệ đã đi qua chiến tranh và gìn giữ thành quả của hòa bình cho hôm nay và mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn