Tuổi thơ trong khói lửa chiến tranh và những năm tháng đầu đời
Sinh ra giữa cao điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tác giả lớn lên trong những ngày quê hương liên tục hứng chịu các trận càn quét của địch. Tuổi thơ gắn liền với cảnh sơ tán, hầm bí mật, bom đạn, nỗi đau mất người thân và những ký ức về trận đánh lịch sử thôn Táo cùng truyền thống cách mạng của quê hương Tuân Chính. Sau hòa bình, tác giả cùng gia đình tham gia lao động sản xuất, trải qua những năm tháng hợp tác hóa nông nghiệp, vừa học tập vừa lao động trong điều kiện còn nhiều khó khă
Theo bố mẹ, tôi sinh đầu năm 1950 tại thôn Trung, xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Thế hệ các cụ ngày trước, khi sinh con, bố mẹ có khi chỉ nhớ mang máng sinh cùng năm với con nhà nào trong xóm và khoảng tháng mấy chứ ít gia đình có thể nhớ được con cái sinh cụ thể vào ngày, tháng, năm nào, nhưng sau này, bố mẹ tôi lấy ngày sinh của tôi là ngày 20 tháng 4 năm 1950. Đây là thời điểm gay go, quyết liệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.
Bố mẹ tôi kể lại, vừa sinh tôi được vài ngày thì một đơn vị lính Pháp và tay sai mở trận càn lớn vào ba thôn Đông, Trung, Thượng. Tất cả các cụ già, trẻ nhỏ, đàn bà chân yếu, tay mềm đều phải chạy ra các làng Bích Chu, Thủ Độ thuộc xã An Tường và các làng tề để lánh nạn. Mẹ tôi vội lót giẻ rách, quần áo cũ và một số đồ đạc vào đôi mủng, đặt tôi nằm gọn một bên theo mẹ đi tản cư... Gia đình tôi ở nhờ nhà người dân địa phương, có lúc phải ra lánh nạn ngoài cánh đồng mía, ngô đợi vài hôm tình hình yên ắng mới dám trở về.
Dân tản cư hết, ở trong làng chỉ còn lại lực lượng du kích, bộ đội địa phương, dân quân chiến đấu. Nhưng thường thì do lực lượng ta mỏng, vũ khí thô sơ, chủ yếu là giáo mác, gậy tầm vông, dựa vào địa hình làng xóm để quần lộn với địch nên cuối cùng vẫn phải xuống hầm bí mật. Lính Pháp và tay sai mặc dù đông và vũ khí hiện đại đấy nhưng cũng chỉ dám càn quét làng xóm ban ngày, đến tối là vội vã rút quân về bốt Quảng, bốt Thùng chứ không dám ở lại làng qua đêm. Cứ như vậy cuộc chiến đấu liên tục diễn ra: Địch càn, ta chống càn rồi luồn càn hay rút xuống hầm bí mật; địch rút quân thì cán bộ, nhân dân lại trở về làng, du kích bật hầm hoạt động trở lại. Càng về sau, do địch thất bại trên khắp các chiến trường, trong khi lực lượng ta càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành nên địch cũng huy động lực lượng lớn hơn mở các trận càn lớn, quy mô, ác liệt hơn và cũng dài ngày hơn nhằm làm chủ tình hình. Sau này, mỗi khi có động (địch càn), ông nội tôi lại vội dắt hai cháu (tôi và anh trai) theo đoàn người tản cư ra làng Phù Chính (vùng tề) cùng xã. Hết càn, ba ông cháu lại dắt díu nhau trở về.
Đầu năm 1953, trận thôn Táo, một trận đánh lớn, lịch sử của quê hương tôi đã diễn ra giữa một đại đội bộ đội địa phương của ta với một đại đội xe tăng, thiết giáp của địch. Một buổi sáng đầu năm 1953, cơ sở của ta báo tin một đại đội xe tăng, thiết giáp có bộ binh ngồi trên của địch xuất phát từ Việt Trì đi theo đê sông Hồng qua xã Lũng Hòa, Cao Đại, An Tường về xã Tuân Chính để phối hợp với các bốt Thùng, bốt Quảng Cư... mở một trận càn lớn, hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực, du kích địa phương và cơ sở cách mạng của ta. Đại đội bộ đội địa phương Vĩnh Tường nhanh chóng trinh sát chuẩn bị chiến trường và triển khai chiến đấu. Địa điểm chọn trận địa phục kích: Đầu làng thôn Táo - xã Tuân Chính là trận địa chặn đầu quân địch. Trận địa khóa đuôi là thôn Thùng Mạch - xã An Tường, đoạn đê cao giữa hai xã, hai bên là ngô, mía rậm rạp, tiện cho việc ém và giấu quân...
Đúng như tin báo và dự kiến, khoảng 8 giờ sáng một ngày đầu tháng 2 năm 1953, bộ phận quan sát của ta báo về nghe thấy nhiều tiếng động, xe tăng và khói bụi theo đê từ xã Cao Đại tiến gần đến trận địa... Tất cả đã sẵn sàng... Khi địch tiến vào đúng trận địa phục kích, bộ phận chặn đầu được lệnh nổ súng. Bị chặn đứng, đoàn xe dừng lại, bộ phận khóa đuôi được lệnh chia cắt phía sau. Đoạn giữa, chủ lực ta được lệnh nổ súng, xung phong, tiêu diệt một số tên địch trên và ngoài xe. Lúc đầu do bất ngờ lọt vào đúng ổ phục kích của ta, quân địch bị hoảng loạn, chống đỡ yếu ớt. Bộ đội ta chiến đấu rất dũng cảm, xung phong đánh gần, giáp lá cà, đâm lê, có nhiều đồng chí trèo lên xe, bám chặt quyết dùng lựu đạn tiêu diệt xe tăng. Bộ đội ta vũ khí chủ yếu là súng trường, lựu đạn, giáo mác trong khi lực lượng địch đông, hỏa lực mạnh nên dần dần chúng co cụm lùi xa trận địa chính, dùng hỏa lực súng máy trên xe chi viện cho nhau, xe sau chi viện cho xe trước nên thế trận giằng co rất quyết liệt. Đến gần trưa, trận đánh kết thúc, quân ta bị thiệt hại lớn. 34 cán bộ, chiến sĩ hy sinh được nhân dân địa phương đưa về mai táng, hiện đang yên nghỉ trong nghĩa trang của xã trước cổng trường cấp Hai và Ủy ban nhân dân xã Tuân Chính.
Đây là trận đánh điển hình, xuất sắc, mưu trí, dũng cảm phát huy các loại vũ khí, trang bị hiện có trong biên chế như súng trường, lựu đạn, giáo mác... để đánh lại quân địch có trang bị hiện đại. Tuy trận đánh chưa giành thắng lợi nhưng đã để lại những bài học kinh nghiệm được phổ biến đến các chiến trường học tập rút kinh nghiệm.
Hồi còn là học sinh, cứ mỗi khi đến ngày 22 tháng 12. Ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Ban Giám hiệu nhà trường lại mời các nhân chứng lịch sử kể chuyện truyền thống quê hương cho toàn trường nghe... Tôi còn nhớ mãi truyền thống cách mạng của quê hương trong đó có trận thôn Táo lịch sử. Và tôi thật sự tự hào vì trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã Tuân Chính - huyện Vĩnh Tường có nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc, được Đảng, Nhà nước, Quốc hội phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Xã có hàng chục Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có sáu sĩ quan Quân đội và Công an được phong quân hàm cấp tướng, một trong những xã có sĩ quan cấp tướng đứng đầu tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 18 tháng 9 (âm lịch) năm 1953, một trận đánh lớn nổ ra giữa dân quân, du kích, bộ đội địa phương với lực lượng đi càn của quân Pháp vào các thôn Đông, Trung, Thượng. Lực lượng bên ta mỏng, yếu hơn nên phải rút xuống hầm bí mật. Quân Pháp chiếm được làng, dồn dân tập trung một chỗ, đánh đập, tra khảo rất dã man. Những ai chúng nghi ngờ là bắn chết tại chỗ để uy hiếp tinh thần nhân dân. Một số nông dân đi làm đồng, chúng nghi là du kích nên bắn chết tại cánh đồng.
Trước cảnh giặc càn, ông nội tôi và anh trai cùng một số gia đình khác vội dắt nhau ra làng Phù Chính tránh càn. Chủ nhà là bà Sơn, có nhà, có vườn rộng, chuồng trâu đào âm xuống lót rơm, vệ sinh sạch ở xung quanh nhà, rất tiện cho việc trông nom nhưng nếu dính bom thì thiệt hại cũng sẽ rất lớn. Mà quả thế, một loạt pháo 105mm từ bốt Tây Đằng (Ba Vì - Sơn Tây) bắn vào giữa làng, trúng chỗ ông cháu tôi trú, làm chết tại chỗ bốn người toàn trai trẻ dưới 20 tuổi, trong đó có anh trai tôi, hai người gia đình ông Cục, một người nhà bà Sơn, còn gần chục người nữa bị thương, trong đó có ông cháu tôi. Hai ông cháu tôi được mọi người nhanh chóng cấp cứu và đưa sang bệnh viện Sơn Tây chạy chữa. Rất may có bà Lợi thôn Đông, gái họ Thiều, thường xuyên đi chợ Sơn Tây, mang quần áo, đồ ăn thức uống cho hai ông cháu, vết thương không nặng lắm. Ông tôi bị nhiều mảnh pháo vào người, một mảnh sượt qua trán, còn tôi bị trúng ba mảnh đạn, trong đó mảnh vào đùi là nặng nhất. Nằm viện khoảng ba tuần thì ông cháu tôi được xuất viện.
Trong lúc ông cháu tôi sơ tán lên Phù Chính và dính phải đạn pháo thì ở nhà, bố mẹ tôi cũng đi sơ tán nơi khác, biết tin anh tôi mất, ông cháu tôi bị thương, cả gia đình bàng hoàng vì mất, mát quá lớn và đột ngột. Gia đình tôi lên Phù Chính cùng gia đình chủ nhà lo mai táng cho những người đã mất, anh trai tôi được đưa về cánh đồng Vua (giữa làng Phù Chính - thôn Đông, bờ sông ngoài) để mai láng. Sau này khi cải táng, hài cốt anh tôi được đưa về đồng Mỏm (ruộng của gia đình). Anh trai tôi sinh năm 1941, khi mất mới 13 tuổi xuân. Đây là lần đầu tiên tôi trực tiếp chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh. Dù lúc đó tôi còn rất bé nhưng vẫn mơ hồ cảm nhận về nỗi đau mất người thân của những người trong gia đình.
Chiến tranh diễn ra ngày càng khốc liệt, quê tôi là vùng địch tạm chiếm, bốt địch dày đặc, các trận đánh diễn ra liên tiếp, nhất là khi phối hợp với các chiến dịch và chiến trường chính. Bom đạn cày xới làng xóm, nhà cháy cây héo khô, khắp đồng quê nồng hơi súng, xác xơ. Chết chóc đau thương bao trùm một miền quê vốn trù phú và giàu truyền thống cách mạng.
Nhưng rồi chiến tranh cũng qua, ngày đó còn bé quá tôi chưa cảm nhận hết về niềm vui chiến thắng nhưng vẫn nhớ những ngày thực hiện cải cách ruộng đất làm thay đổi cuộc sống gia đình tôi. Những năm 1955 - 1960, gia đình tôi đươc chia gần một mẫu mộng. Có ruộng rồi, các gia đình đổi công cho nhau, làm như vậy rất thuận lợi, nhanh, bảo đảm thời vụ. Bố tôi hay tậu nghé về để vực, thuộc cày rồi lại đem bán mua con khác. Tôi biết làm nông từ rất sớm. Với cái nón mê, quần cộc, dưới sự chỉ bảo của bố, tôi đi trước cầm thừng dắt trâu, bố đi sau cầm cày, bừa, thế là chín, mười tuổi tôi đã trở thành lao động phụ trong gia đình. Mẹ tôi phát góc, bờ, đi cấy, thường đi sau, nấu cơm, xôi, bánh, hoa quả mang cho hai bố con tôi đi làm thật sớm cho mát và cũng để kịp có ruộng cấy.
Lúc tôi đã bảy, tám tuổi rồi mà không có lớp, có trường, cả lũ trẻ chúng tôi đều không được đi học. Năm 1958, ông Đạo là người trong dòng họ, biết chữ, tập trung bọn trẻ, lấy nhà ở mọ Ngư (Ngư Để) làm lớp học. Lớp học chỉ có ba gian nhà ngoài, không bàn ghế. Hơn 20 học sinh phải kê bảng, sách lên phản, giường, cánh cửa để học. Sang năm sau thì bà giáo An dạy thay cho ông Đạo.
Ngày 5 tháng 9 năm 1960, khi mười tuổi, tôi mới chính thức vào học lớp Một. Lớp học ở chùa Hoa Dương, ngách bên trái nhìn vào gọi là sảnh chùa, giữa không gian là năm cây cau thành hàng tốt, quả xum xuê, ngày mồng Một ngày Rằm, Tết là các vãi thường hái vào thờ. Trong những ngày đó, khói hương nghi ngút, sư cụ ra làm lễ, bọn trẻ chúng tôi tò mò dõi theo, có đứa bắt chước sư cụ bái lạy Phật.
Thầy giáo của chúng tôi tên là Hồ, khoảng hơn 50 tuổi, quê xã Thái Học. Tính thầy điềm đạm, hiền hậu. Thầy nhiều năm dạy học nên có rất nhiều kinh nghiệm. Buổi học đầu tiên gieo vào lòng tôi ân tượng sâu đậm. Cả lớp im phăng phắc nghe thầy giảng, niềm khát khao con chữ bấy lâu nay của chúng tôi giờ đây mới được thỏa.
Năm học lớp Hai và lớp Ba, chúng tôi được chuyển ra học tại miếu thôn Thượng, rộng và thoáng hơn ở chùa. Thầy giáo tên Vận, quê ở xã Đại Đồng. Thầy trẻ, đẹp trai, khoảng trên dưới 30 tuổi. Hai năm học, thấy rất tình cảm, gần gũi với học sinh. Vào lớp Hai, buổi đầu tổ chức lớp, thầy chỉ định tôi làm lớp trưởng rồi xin ý kiến cả lớp, tất cả lớp đồng thanh nhất trí, thế là tôi thành lớp trưởng trong hai năm học do thầy phụ trách.
Giữa năm học lớp Hai, thầy phát động đóng góp quỹ lớp, mọi người đóng theo quy định, tất cả quỹ đều giao cho lớp trưởng giữ. Có mấy đồng bạc của lớp mà tôi lo mất ăn, mất ngủ vì tôi chưa có tiền và chưa giữ một số tiền lớn như thế bao giờ.
Năm học lớp Ba, thầy tổ chức lớp đi lao động công ích một tuần tại Nhà máy đóng tàu Việt Trì. Do phương tiện khó khăn nên thời gian đi và về đã mất đứt hai ngày, chỉ còn năm ngày để lao động, khiêng sỏi ở bãi lên xà lan. Học sinh nhỏ tuổi, chưa lao động nặng bao giờ nên chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, đi xa, mỏi chân, nhiều bạn bị tụt lại phải nhờ giúp đỡ... Tuần lao động công ích đó đã để lại rất nhiều kỷ niệm mà sau này bạn bè thỉnh thoảng có dịp gặp lại nhau vẫn hào hứng nhắc lại.
Hai năm học thầy Vận, được làm lớp trưởng, tôi học tốt, ngoan, được nhà trường tặng giấy khen và thầy có phần thưởng... Bố mẹ tôi rất yên tâm, phấn khởi và tự hào về tôi.
Năm tôi học lớp Bốn, do học sinh đông, trường chật chội nên lớp học tạm ở miếu, chùa và đình thôn Trung chỉ dành cho học sinh cấp Hai, còn tất cả các lớp khác sang học tại đình Phù Chính. Thế là sau ba năm học, đã quen thầy, quen bạn giờ đành phải xa nhau, biết bao lưu luyến.
Lớp Bốn có khoảng trên 40 học sinh, toàn người thôn Đông, Phù Chính, Quảng Cư, riêng xóm Xuôi có gần chục người đều là anh em trong họ. Lớp học cách nhà hơi xa nên chúng tôi phải đi sớm, về muộn.
Thầy giáo của chúng tôi tên là Soạn, quê ở Thượng Trưng (giáp đầu làng thôn Thượng). Thầy rất nghiêm và khó gần. Đi học muộn, nói chuyện, không thuộc bài, hay mắc khuyết điểm gì là thầy gọi lên bảng phạt, bắt đứng hàng giờ. Một lần, cả lớp tập trung lắng nghe thầy chữa bài tập cũ, bài tập làm văn của tôi được thầy chấm cho điểm cao và lấy làm mẫu để chữa, nhưng cần sửa một số câu. Thầy chữa xong và cầm bài đọc cho cả lớp chép. Cả lớp chép bài ngồi im phăng phắc, tôi ngồi không chép mà còn quay sang nói chuyện riêng. Thầy dừng lại, nghiêm sắc mặt, để bài lên bàn, gằn giọng:
- Thiều Chí Đinh?
- Có! - Tôi vội đáp lời.
- Đứng dậy, lên bảng... Tại sao thầy đọc em không chép bài?
Tôi ấp úng nói không thành lời. Thầy nói:
- Em đứng gần lại đây... ngửa hai bàn tay, để lên bàn.
Tôi ngoan ngoãn làm theo... Thầy cầm cây thước kẻ bảng dài khoảng 60cm giơ thẳng, đánh hai cái vào hai bàn tay tôi. Trời mùa đông rét lạnh, quá đau làm tôi không còn cảm giác gì nữa. Đó là một bài học để đời!
Thi hết cấp, cả lớp đều đạt điểm đỗ trở lên và chuyển về trường cấp Hai tại Tuân Chính. Ngày 5 tháng 9 năm 1964, lần đầu tiên chúng tôi được học trường chính quy, nhà cửa khang trang, bàn ghế sạch sẽ. Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo đều trên dưới 30 tuổi. Thầy Chi là Hiệu trưởng, quê ở Thượng Trưng, cao tuổi hơn cả. Các thầy cô đều tốt nghiệp trường sư phạm chính quy của những năm đầu đất nước hòa bình.
Tôi học lớp thầy giáo Hòa làm chủ nhiệm, quê thầy ở Nam Hà. Thầy rất nghiện thuốc, chuyên môn giỏi, gần gũi, yêu thương học trò nên cánh học sinh chúng tôi rất quý mến thầy. Có những đêm thầy còn lặn lội tới thăm hỏi hoàn cảnh gia đình, phụ đạo thêm cho học sinh. Thầy là tấm gương mẫu mực về đức độ, tình cảm của người thầy đối với học sinh. Sau này, khi có cơ duyên với nghề quản lý giáo dục ở ngôi trường lớn nhất của Quân đội, mỗi lần nhìn các thầy cô trong trường, tôi lại như thấy có bóng dáng thầy Hòa chủ nhiệm của tôi thuở nào.
Khi tôi đang học lớp Năm thì cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ ngày càng căng thẳng, ác liệt, lan ra toàn miền Bắc. Mỗi người chúng tôi phải đan một chiếc mũ rơm đội lên đầu khi đi học, vào lớp thì treo vào sau ghế ngồi, có báo động là nhanh chóng đội vào chạy ra hầm trú ẩn. Cứ thế, mỗi buổi học có khi diễn ra báo động liên tục vài lần. Trên trời, máy bay phản lực gầm rú. Mặt đất, pháo phòng không, tên lửa của bộ đội ở khắp các trận địa nổ ran mảnh đạn rơi lõm bõm ngoài đồng, trong làng. Đầu làng Phù Chính, ngoài bãi cát, giữa cánh đồng có một trận địa tên lửa Sam 2, tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, 14,5mm và một số pháo khác bảo vệ. Mỗi khi có máy bay, ra đa cảnh giới rú còi báo động, chúng tôi lại chạy ra hầm trú ẩn. Không có ngày nào địch không đánh phá Hà Nội, Sơn Tây, Việt Trì, ga Hương Canh (thị xã Vĩnh Yên - Phúc Yên)... Dân quân tự vệ vừa sản xuất vừa chiến đấu, súng bộ binh K44, CKC lúc nào cũng đeo bên người, khi chưa có máy bay Mỹ thì giá ngoài bờ ruộng sẵn sàng chiến đấu.
Học hết lớp Năm ở trường chính quy, đến năm học lớp Sáu, lớp Bảy, chúng tôi phải sơ tán toàn bộ khỏi trường. Lớp chúng tôi được sơ tán về đầu làng ở xóm trại trong vườn nhà ông Tình Hiếu. Nhà trường, xã thuê vườn lâu dài, đào hào sâu, đắp bờ xung quanh, có hào cơ động ra các hầm. Lớp làm bằng khung tre, lợp lá cọ, mát và đủ sáng cho thầy và trò dạy và học. Lớp học tách xa khu dân cư, kín đáo, bất ngờ nên không sợ máy bay địch đánh phá.
Hai năm học cuối khóa, trong điều kiện chiến tranh, biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ, thiếu thốn mà thầy và trò chúng tôi đều vượt qua và học tập tốt. Tất cả các sinh hoạt thời chiến vẫn diễn ra đan xen với sinh hoạt đời thường. Chúng tôi học tập, lao động và vui chơi dưới sự đe dọa của máy bay Mỹ có thể bất ngờ kéo đến bất cứ lúc nào. Khó khăn, nguy hiểm rất nhiều nhưng không vì thế mà mọi hoạt động bị đình lại, âu cũng là nét đặc biệt của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Đầu năm 1960, thực hiện chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội làm hậu phương lớn cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, Đảng và Nhà nước đưa nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp, làm ăn tập trung, đưa cơ giới, máy móc kỹ thuật áp dụng vào sản xuất nông nghiệp để tăng năng suất và nâng cao đời sống. Nông dân quê tôi và toàn miền Bắc phấn khởi, tin tưởng đem hết ruộng, vườn vào hợp tác xã. Thế là từ đó, cứ theo tiếng kẻng, các đội rủ nhau ra làm đồng, kẻ cày, người bừa, cấy, nhổ mạ... đông vui nhộn nhịp.
Hợp tác xã thôn Trung có trại nuôi lợn, trâu tập trung, nhiều đàn lợn chất lượng kém, kém kỹ thuật chăn nuôi, thiếu ăn nên lợn gầy, lâu lớn, có lúc chết nhiều. Mấy đứa bọn tôi được bố mẹ giao đi lấy rau lợn cho hợp tác xã nên sáng đi học, trưa về ăn vội phần cơm được ủ chiếu, chăn chiên cho nóng, xong là mang đôi quang, cái liềm ra đầm Vùng, đầm Khoang, đầm Bún, cởi quần áo, ngụp xuống, nhô lên khoảng hơn tiếng đồng hồ là có rong xếp vào quang gánh về sân kho, cân cho ông đội trưởng phụ trách chăn nuôi được 50 - 60kg là đạt hơn chục điểm, về nhà đưa cho bố mẹ chiếc phiếu điểm là được đi chơi, coi như đã hoàn Thành công việc trong ngày. Vừa học, vừa làm, cứ như thế suốt ba năm học cấp Hai, tôi cũng giúp bố mẹ có thêm chút thu nhập, ổn định cuộc sống gia đình.
Quê tôi đầm nhiều, ruộng sâu nên hợp tác xã trồng sen và thả cá. Mỗi mùa mưa đến, cá cứ ngược theo dòng nước lên khắp các cánh đồng, dân làng đổ ra như trẩy hội để bắt cá rô rạch, các loại cá chép, mè, trôi, trăm... Mặc dù đầm do hợp tác xã quản lý nhưng mùa mưa cá lên nhiều, các ông trông đầm cũng không sao quản lý nổi, tôi và mấy thằng bạn cùng xóm có ngày bắt được cả tạ cá, không dùng hết còn đem bán. Cá trên sông đào cũng nhiều, nước to thì kéo lưới, cất vó, nước cạn thì rủ nhau đem nơm úp cũng được vài chục cân. Cá, tôm, cua, ốc, ếch thời đó quê tôi rất sẵn, đã đi là có thứ ăn, có khi còn được rất nhiều. Đầu mùa mưa, ếch, nhái, ễnh ương kêu râm ran nhức óc, có đêm ba, bốn thằng chúng tôi đem về hàng trăm con, con nào cũng to, vàng ươm, nhốt nồi, nhốt chum không hết còn đem nhốt tăngxê (hầm tránh máy bay) ở bụi tre đầu nhà để đem bán dần lấy tiền ăn học. Mấy thằng choai choai chúng tôi: Đinh, Đỏ, Nhi, Vũ, Tý, Đun, Cần, Lan, Thám... chơi với nhau rất thân, đi đâu, làm gì cũng có nhau, nhất là công việc mò cua, bắt cá đã trở thành một thú vui, niềm ham mê nên có bữa say sưa chúng tôi đi hết dộc Khoang, dộc Đánh, đầm Chối, chổ Rô, xuống đầm Quảng Cư để đánh bắt cá, đi suốt đêm, sáng về lại cắp sách đi học...
Ban ngày chúng tôi học tập, lao động giúp gia đình, tối về lại miệt mài tự học. Nhà chúng tôi đều nghèo, đất nước thì đang khó khăn, dầu hỏa thắp sáng được Nhà nước, hợp tác xã phân phối cho mỗi khâu quá ít nên phải rất tiết kiệm mới dù cho các tối học, vậy là phải hai, ba anh em, thậm chí bốn anh em chung một cây đèn dầu. Ấy thế mà chúng tôi đứa nào cũng, say mê học, không coi đó là trở ngại. Có đêm đang học thì nghe kẻng báo động, phải vội tắt đèn chạy ra hầm phòng tránh máy bay.
Lúc bấy giờ, việc học tập chưa quy củ như hiện nay nên trong một lớp học có nhiều độ tuổi khác nhau. Vì thế, đang học mà lớp chúng tôi đã có một số bạn đủ tuổi nhập ngũ. Nhiều bạn nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng, của Bác háo hức đăng ký nhập ngũ nên lớp học cứ thế vơi dần đi sau mỗi đợt khám tuyển quân sự... Trong không khí "cả nước ra trận", nhìn bạn bè lớn tuổi hơn lên đường mà lòng tôi ao ước. Ba năm cấp Hai đầy biến động, khó khăn, gian khổ và thiếu thốn rồi cũng xong. Tháng 5 năm 1967, chúng tôi thi hết cấp.
Sau khi thi đỗ tốt nghiệp cấp Hai, đa số chúng tôi 17, 18 tuổi, một số ít theo học cấp Ba, một số làm đơn thi trung cấp sư phạm, ngành y, cơ khí, còn lại xin đi bộ đội... Riêng tôi không định thi trường nào mà chỉ quyết đi bộ đội để được vào chiến trường chiến đấu. Mặc dù bố mẹ, gia đình, bạn bè khuyên bảo nhung tôi vẫn một mực theo ý tưởng của mình, không thay đổi.



