TUỔI XUÂN VỚI NHIỆM VỤ TỔ QUỐC
Tôi đến thăm ông vào một buổi trưa của tháng Tư lịch sử. Ông vui vẻ đón chào tôi và hỏi:
– Nay cán bộ Đoàn đến thăm ông, hay có chuyện gì không?
Tôi chào ông và đáp:
– Ông cứ chọc tụi cháu hoài! Cháu đến để nghe ông kể chuyện thời trai trẻ chiến đấu của ông nè. Ông có thời gian kể cho cháu nghe không?
Ông cười khà khà:
– Kể chuyện thời chiến thì ông kể mấy ngày cũng chưa hết, chỉ sợ cháu không có thời gian để nghe thôi!
Hai ông cháu cùng cười rạng rỡ. Khi tôi hỏi: “Ông ơi, ông đi bộ đội vào thời gian nào vậy ạ?”, ánh mắt ông bắt đầu hướng về những ký ức xa xăm:
– Ông đi bộ đội khi nước ta đã giải phóng. Nhưng lúc ấy, tình hình biên giới biến động lắm cháu à. Lúc đầu ông tham gia nghĩa vụ ở tỉnh đội Quảng Nam, sau đó ông cùng đồng đội tiếp viện cho tỉnh đội Gia Lai. Ngày 01 tháng 7 năm 1977, ông nhận nhiệm vụ tăng cường lên biên giới, đóng quân tại Đồn 23 ở ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia.
Được sự kêu gọi từ mặt trận đoàn kết cứu quốc Campuchia, bộ đội tình nguyện của ta đã vượt biên giới để giúp giải phóng nhân dân nước bạn khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt ở A-ta-ri, Bát-tam-băng (Battambang).
Khi ấy, ông ở Tiểu đội 3 thuộc Tỉnh đoàn Gia Lai (quân địa phương), sát cánh chiến đấu cùng lực lượng Trung đoàn 95. Ông bảo lúc đó chưa có lực lượng quân khu. Sau này, khi tình hình biên giới bùng nổ ác liệt, nhận lệnh từ Trung ương, lực lượng Quân khu V cùng với quân địa phương đã đánh chiếm các căn cứ quan trọng của địch như X.A, X.B vào tháng 8/1978 và bám trụ hoạt động tại đó.
Đến ngày 07/01/1979, ta mở chiến dịch tiến công giải phóng thủ đô Phnôm Pênh (Phnom Penh). Từ đó, Quân khu mới thành lập các Sư đoàn, Trung đoàn. Ông thuộc Trung đoàn 142 trực thuộc Sư đoàn 315, trải qua rất nhiều trận đánh ác liệt tại chiến trường Campuchia.
Ông cười tự hào:
– Ông là một trong những tiểu đội trưởng đầu tiên tiến lên vùng biên giới để làm nhiệm vụ quốc tế. Lúc đó ông là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2, Đại đội 3, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 143.
Rồi giọng ông chùng xuống khi nhớ về những gian khổ:
– Hồi đó ăn uống khổ cực lắm. Cơm vắt thành từng cục bỏ trong ba lô. Bên đó lại thiếu nước, có khi khát quá phải uống cả nước sương đọng lại trong những dấu chân trâu bò từ sáng sớm. Nên lính mình hay truyền miệng câu đùa: "Ăn cơm cục, uống nước đục, không đi thì cán bộ giục, mà đi thì địch phục". Khổ cực là thế, nhưng lòng người lính lúc nào cũng khắc ghi 9 điều quy định của quân đội: "Cây kim, sợi chỉ không lấy; gà không bắt, bí không hái…". Có những lúc hành quân khô cháy cả họng, không có nước, anh em phải dùng cả nước tiểu của chính mình để uống cầm cự.
Tôi khẽ cầm lấy tay ông. Những ngón tay khô gầy, không còn nguyên vẹn như xưa. Đó chính là dấu tích nghiệt ngã mà chiến tranh để lại. “Ông ơi, ông còn nhớ vì sao mình bị thương như thế này không ạ?” – Tôi khẽ hỏi.
“Sao mà không nhớ!” Ánh mắt ông đăm chiêu, đưa tâm trí quay về cái ngày sinh tử ấy. “Hồi đó, khi đánh chiếm căn cứ X.B của địch, lúc đang băng qua đầm lầy ông trúng đạn.”
Ông kể tiếp, rành rọt từng chi tiết như chuyện mới hôm qua: Bảy giờ tối hôm đó, một tổ gồm 12 đồng chí lên nhận chốt, trong đó có 1 Đại đội trưởng, 1 lính thông tin bộ đàm, 1 thông tin rải dây, đồng chí Mạnh (Thiếu úy, Trung đội trưởng) cùng các chiến sĩ. Địch bắt đầu tấn công từ 4 giờ sáng đến tận 5 giờ chiều. Đồng chí Mạnh điện về báo: "Chốt bây giờ còn mình em, em bị thương rồi. Đề nghị Tiểu đoàn đánh phong tỏa để đưa anh em về, anh em hy sinh hết rồi!". Anh Thảo lập tức điện về Tiểu đoàn xin chỉ thị. Tiểu đoàn đánh giá địch đang tấn công quá mạnh, ra lệnh cố gắng đánh mở đường máu, anh em nào thoát được thì thoát.
Lệnh trên đưa xuống, yêu cầu đồng chí Khiếm ra tiếp cận khẩu đội súng cối để yểm trợ cho đồng chí Hòa rút quân. Vừa ra tới bãi sắn, địch đã tràn lên ào ạt, đạn bay như mưa. Ông vẫn cố gắng bám trụ bên khẩu đội cối để yểm trợ đồng đội. Rất nhiều đồng chí đã ngã xuống ngay trước mắt ông: đồng chí Lời (quê Tam Hiệp), đồng chí Thiệp (quê Tam Hòa)...
Đồng chí Cho ở lại cùng ông để tháo súng cối rút về. Địch bắn rát quá, đồng chí Cho trúng đạn, và ông cũng bị thương. Sáng hôm sau, khi lết qua được hầm của đồng chí Bát (Đại đội trưởng), ông báo cáo: "Tuyến do đồng chí Phong (Tiểu đội trưởng) phụ trách anh em hy sinh hết rồi, tiểu đội tôi cũng hết rồi. Bây giờ tôi với đồng chí Cho đều bị thương, đề nghị cấp trên linh hoạt xử lý". Đồng chí Điệp vội kéo tay ông lại, xé áo băng bó sơ cứu để cầm máu. Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc, đồng chí Bát ra lệnh: "Bây giờ là nước cuối rồi, đồng chí nào rút được thì rút!". Nhận lệnh, ông nén đau, dìu theo đồng chí Cho đang trọng thương, cùng nhau bì bõm băng qua bãi lầy để tìm đường về Tiểu đoàn.
Sau khi được chữa lành vết thương, ông không về tuyến sau mà tiếp tục xin trở lại đơn vị, tham gia chiến dịch tháng 1/1979 giải phóng Phnôm Pênh. Đến tháng 12/1979, khi Nhà nước có đợt giải quyết chế độ cho thương binh, bệnh binh lùi về tuyến sau, ông mới chính thức được trở về quê hương.
Kể về những trận đánh chốt, ông miêu tả: – Mình từ dưới bò lên, địch trên cao bắn chéo cánh sẻ và ném lựu đạn rào rào xuống. Có những quả đạn pháo nổ tung, cuốn cả đồng đội mình vào trong biển khói. Đi phía sau, tưởng anh em đã hy sinh, ông thốt lên: "Thôi, đồng chí Thuận hy sinh mất rồi!". Nhưng một lúc sau, tiếng Thuận văng vẳng trong khói đạn: "Không, em còn sống đây anh nghe!". Rồi anh em lại hô hào nhau xông lên. Trận nào thắng thì ráng tìm cách gom thi hài đồng đội về nơi tập kết. Trận nào thua, ai bị thương nhẹ thì dìu, cõng được thì cõng, còn những người đã hy sinh hay bị thương quá nặng không thể di chuyển, đành gạt nước mắt để lại trận địa theo lệnh rút lui bảo toàn lực lượng.
Nghe đến đây, tôi nghẹn ngào hỏi: “ Lúc bị thương và đối mặt với cái chết như vậy, ông có sợ không? Có bao giờ ông nghĩ mình sẽ không thể sống sót trở về quê hương không?”
Ông mỉm cười, nụ cười hiền hậu của một người đã đi qua mưa bom bão đạn: – Hồi đó, những thanh niên tuổi 19, 20 như ông đa phần chưa có gia đình. Trong đầu lúc nào cũng chỉ có một suy nghĩ duy nhất: Đi chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành cái nghĩa vụ thiêng liêng mà non sông giao phó. Còn sống là còn chiến đấu, chẳng ai màng đến chữ "sợ" đâu cháu à!



