TƯỢNG ĐÀI BẤT TỬ CỦA HAI BÀ TRƯNG

Trong cội nguồn lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có những trang vàng chói lọi được viết bằng mồ hôi, xương máu và lòng yêu nước nồng nàn. Nhắc đến giai đoạn đầu của cuộc đấu tranh giành độc lập chống ách thống trị ngoại bang, không ai không bồi hồi xúc động khi hướng về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40 – 43 sau Công nguyên). Đó không chỉ là một mốc son quân sự hào hùng, mà còn là bản anh hùng ca ngợi khí phách kiên cường, ý chí bất khuất của những người phụ nữ Việt Nam.
Vào những thế kỷ đầu Công nguyên, nước ta rơi vào ách đô hộ tàn bạo của nhà Hán phương Bắc. Dưới thời cai trị của thái thú Tô Định, nhân dân ta chịu muôn vàn kiếp lầm than, bóp nghẹt bởi những thứ thuế khóa nặng nề và chính sách đồng hóa thâm độc. Tại vùng Mê Linh, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị – dòng dõi Lạc tướng vốn có truyền thống yêu nước – lớn lên trong thời đại đầy biến động ấy. Được hun đúc bởi truyền thống hào hùng của cha ông, hai Bà sớm tinh thông võ nghệ, tỏ rõ chí khí hiên ngang. Khi chồng của Trưng Trắc là Thi Sách – một Lạc tướng ở Chu Diên có lòng yêu nước thương dân – bị tên thái thú tàn bạo Tô Định hãm hại nhằm dập tắt ý chí của nghĩa quân, ngọn lửa căm phẫn trong lòng Hai Bà cùng toàn thể nhân dân đã bùng cháy hơn bao giờ hết. Nợ nước thù nhà hòa làm một, thúc giục hai vị nữ tướng đứng lên hiệu triệu nhân dân phất cờ khởi nghĩa.
Mùa xuân năm 40 sau Công nguyên, tại cửa sông Hát, trước hàng vạn nghĩa quân sĩ khí ngút trời, Hai Bà Trưng đã lập bàn thờ tế trời đất, dõng dạc đọc lời thề thiêng liêng: rửa sạch nước thù, khôi phục nghiệp cũ họ Hùng, giữ vững khí tiết và vẹn toàn lời thề. Lời thề ấy như tiếng sét vang động núi sông, khắc sâu vào tâm khảm của từng người con đất Việt. Hình ảnh hai vị nữ tướng oai phong lẫm liệt cưỡi voi chiến, dẫn đầu đoàn quân ào ạt xông trận đã trở thành biểu tượng kinh điển của tinh thần quyết chiến quyết thắng. Sức mạnh của lòng yêu nước đã kết nối các Lạc tướng, Lạc dân từ khắp các vùng miền, tạo thành một khối đại đoàn kết vững như bàn thạch.
Chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quân Mê Linh đã tiến đánh dồn dập, san bằng các đồn lũy giặc. Thành Luy Lâu thất thủ, tên thái thú khét tiếng tàn bạo Tô Định phải hoảng sợ cắt tóc, cạo râu, cải trang thành dân thường để trốn chạy về nước. Sáu mươi lăm thành trì của ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam lần lượt được thu hồi. Đất nước ta sạch bóng quân thù, giành lại được nền độc lập tự chủ. Trưng Trắc được tôn làm Vua, đóng đô tại Mê Linh, mở ra một chương hoàng kim rực rỡ cho tinh thần tự tôn dân tộc.
Dù sau đó, trước sự phản công quy mô lớn của nhà Hán với đạo quân chủ lực do viên tướng lão luyện Mã Viện chỉ huy, cuộc khởi nghĩa chỉ kéo dài được gần ba năm, và Hai Bà đã chọn cách tuẫn tiết trên dòng sông Đáy để giữ tròn khí tiết thanh cao, nhưng sự hy sinh ấy không hề chìm vào quên lãng. Ngược lại, nó đã hóa thân thành hồn thiêng sông núi, tạc vào lịch sử một bức tượng đài vĩnh cửu về lòng trung trinh và tinh thần thà chết chứ không chịu làm nô lệ.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng không chỉ khẳng định năng lực lãnh đạo tài tình, bản lĩnh phi thường của người phụ nữ Việt Nam trong buổi đầu lịch sử, mà còn minh chứng hùng hồn cho câu nói giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Nhìn lại quá khứ hào hùng ấy để thêm tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc, và càng thêm trân trọng những nhân chứng lịch sử, những thế hệ đi trước đã hy sinh xương máu để gìn giữ giang sơn. Khí phách của Hai Bà Trưng vẫn mãi là ngọn đuốc thiêng liêng soi đường cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.



