TƯỢNG ĐÀI BẤT TỬ CỦA LÒNG YÊU NƯỚC VÀ ĐỨC HY SINH: BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THỨ
TƯỢNG ĐÀI BẤT TỬ CỦA LÒNG YÊU NƯỚC VÀ ĐỨC HY SINH:
BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THỨ
Chủ đề: Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ – Biểu tượng anh hùng cách mạng
Đơn vị/Bối cảnh: Nghiên cứu Lịch sử và Tri ân các Cống hiến Cách mạng
MỤC LỤC
1. Lời mở đầu: Tượng đài huyền thoại và nỗi đau thương lớn lao của dân tộc
2. Quê hương Điện Bàn anh hùng và gia cảnh Mẹ Nguyễn Thị Thứ
3. Trận tuyến thầm lặng: Những căn hầm bí mật và ngọn đèn ám hiệu trong đêm
4. Mười hai lần tiễn bước, mười hai nỗi đau tạo nên lịch sử
o 4.1. Chín người con trai anh dũng hy sinh vì độc lập dân tộc
o 4.2. Sự hy sinh của người con rể và hai người cháu ngoại
o 4.3. Bức ảnh mâm cơm chín bát đũa và nghị lực phi thường của Mẹ
5. Biểu tượng vĩnh hằng và di sản còn mãi với sông núi
o 5.1. Danh hiệu cao quý và sự tôn vinh của toàn dân tộc
o 5.2. Quần thể Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng – Khúc ca bất tử bằng đá
o 5.3. Bài học tri ân và trách nhiệm của thế hệ hôm nay
6. Kết luận
7. Danh mục tài liệu tham khảo
1. LỜI MỞ ĐẦU: TƯỢNG ĐÀI HUYỀN THOẠI VÀ NỖI ĐAU THƯƠNG LỚN LAO CỦA DÂN TỘC
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, người phụ nữ luôn giữ một vị trí vô cùng đặc biệt. Họ không chỉ là những người giữ lửa cho gia đình, tảo tần nuôi dạy con cái mà khi Tổ quốc lâm nguy, họ sẵn sàng gánh vác việc nước, tiễn những người thân yêu nhất ra mặt trận và chính họ cũng trở thành những chiến sĩ kiên trung nơi hậu phương. Trong số hàng vạn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đã được Đảng và Nhà nước vinh danh, Mẹ Nguyễn Thị Thứ (1904 – 2010) tại vùng đất Quảng Nam trung dũng gia cường nổi lên như một biểu tượng vĩ đại và cảm động nhất về lòng yêu nước, đức hy sinh vô bờ bến.
Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại trên toàn cõi Việt Nam, nhưng giá trị của độc lập, tự do hôm nay được đổi bằng xương máu của hàng triệu người con ưu tú. Trong bức tranh hùng ép nhưng tràn đầy nước mắt ấy, Mẹ Nguyễn Thị Thứ là người Mẹ đã chịu đựng nhiều mất mát nhất: Mẹ có tới 9 người con trai, 1 người con rể và 2 người cháu ngoại đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nỗi đau ấy không một từ ngữ nào có thể diễn tả hết, nhưng nghị lực kiên cường và lòng nồng nàn yêu nước của Mẹ đã vượt lên trên mọi thương đau, trở thành nguồn lực tinh thần vô giá, tiếp thêm sức mạnh cho hàng triệu chiến sĩ ngoài mặt trận vững bước tiến lên.
Bài viết này đi sâu khắc họa cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến thầm lặng nhưng vĩ đại của Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ. Qua đó, không chỉ giúp thế hệ trẻ hôm nay hiểu rõ hơn về những trang sử hào hùng, đẫm máu và hoa của dân tộc, mà còn khẳng định giá trị trường tồn của biểu tượng "Mẹ Việt Nam" trong đời sống tâm linh, văn hóa và lịch sử nước nhà.
2. QUÊ HƯƠNG ĐIỆN BÀN ANH HÙNG VÀ GIA CẢNH MẸ NGUYỄN THỊ THỨ
Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 (một số tài liệu căn cước thời chế độ cũ ghi năm 1902) tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc phường Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn). Vùng đất Điện Bàn, Quảng Nam từ lâu đã nổi tiếng là địa linh nhân kiệt, nơi sinh ra biết bao anh hùng, chí sĩ yêu nước và cũng là địa bàn trọng điểm cách mạng trong suốt các thời kỳ chiến tranh. Riêng xã Điện Thắng Trung đã có hàng chục Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và hàng trăm liệt sĩ đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo giàu truyền thống yêu nước, Mẹ Nguyễn Thị Thứ sớm thấm nhuần tinh thần kiên cường của quê hương. Mẹ kết hôn với cụ Lê Tự Trị, một người nông dân hiền lành, giàu lòng nhân ái và kiên trung bám trụ quê hương. Vợ chồng Mẹ sinh được 12 người con, gồm 11 người con trai và 1 người con gái duy nhất là bà Lê Thị Trị.
Cuộc sống của gia đình Mẹ trải qua biết bao gian khổ, nhọc nhằn. Trong khung cảnh làng quê Quảng Nam bị bao vây bởi đồn bốt địch, Mẹ cùng chồng phải thức khuya dậy sớm, dãi nắng dầm sương trên đồng ruộng để chắt chiu từng hạt gạo, củ khoai nuôi lớn 12 người con. Dù cuộc sống đói nghèo, thiếu thốn, Mẹ Thứ vẫn luôn giữ trọn đạo lý làm người, dạy dỗ các con lòng tự trọng, tình yêu quê hương làng xóm và ý thức trách nhiệm đối với đất nước. Khi ngọn lửa cách mạng bùng cháy, gia đình Mẹ không ngần ngại trở thành một cơ sở cách mạng vững chắc, sẵn sàng dâng hiến tất cả cho sự nghiệp lớn của dân tộc.
3. TRẬN TUYẾN THẦM LẶNG: NHỮNG CĂN HẦM BÍ MẬT VÀ NGỌN ĐÈN ÁM HIỆU TRONG ĐÊM
Không chỉ là người Mẹ tiễn con ra chiến trường, bản thân Mẹ Nguyễn Thị Thứ cùng người chồng và người con gái đầu Lê Thị Trị còn là những chiến sĩ cách mạng kiên cường ngay giữa lòng địch. Trong những năm tháng đen tối nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi kẻ thù thực hiện chính sách "tố cộng, chống cộng", càn quét, khủng bố khốc liệt nhằm hủy diệt các cơ sở cách mạng ở vùng ven Đà Nẵng - Quảng Nam, ngôi nhà và khu vườn của Mẹ Thứ đã trở thành "thành trì" an toàn bảo vệ cán bộ, du kích.
Trong khu vườn rộng của gia đình tại xóm Rừng, Mẹ Thứ cùng chồng và các con đã bí mật đào tới 5 căn hầm giấu cán bộ. Đào hầm giữa vùng địch hậu là công việc vô cùng nguy hiểm, đòi hỏi sự cẩn trọng và mưu trí tột cùng. Mẹ đã nghĩ ra những phương pháp ngụy trang vô cùng tài tình:
Ngụy trang bằng đàn bò: Mẹ nuôi một đàn bò đông đúc trong vườn. Miệng hầm bí mật được bố trí ngay dưới các bụi cây hoặc ụ cỏ nơi bò thường xuyên đứng ăn. Hằng ngày, Mẹ và con gái giả vờ ra vườn chăm sóc bò, chăn thả bò để tranh thủ ngụy trang lại miệng hầm, xóa sạch mọi dấu vết khả nghi.
Mở cửa hầm cho cán bộ thở: Khi không có bóng dáng quân địch càn quét, Mẹ Thứ nhẹ nhàng mở hé cửa hầm để cán bộ, chiến sĩ dưới hầm có không khí thở và truyền cho họ những tin tức tình báo mới nhất. Khi nghe tiếng động hoặc phát hiện địch đến gần, Mẹ lập tức phát tín hiệu ngụy trang che kín miệng hầm.
Ngọn đèn ám hiệu và chiếc nồi đồng: Ngôi nhà nhỏ của Mẹ nằm sát nách đồn bốt địch. Hằng đêm, Mẹ Thứ đặt một ngọn đèn dầu bên bàn thờ. Nếu ngọn đèn sáng bình thường, đó là ám hiệu an toàn để cán bộ, du kích từ ngoài căn cứ mò về hoạt động. Nếu ngọn đèn bị tắt hoặc dời đi chỗ khác, anh em biết ngay đang có động và rút lui an toàn. Bên cạnh đó, chiếc nồi đồng to của Mẹ luôn đỏ lửa đun nước, nấu cơm tiếp tế cho hàng trăm lượt cán bộ, bộ đội ẩn nấp dưới hầm. Chiếc nồi đồng ấy nay đã trở thành một kỷ vật lịch sử vô giá, được trân trọng trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
Nhờ có sự chở che, nuôi dưỡng tận tình và sự mưu trí của Mẹ Thứ, hàng trăm cán bộ cách mạng, trong đó có nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Tỉnh ủy Quảng Nam và Đặc khu ủy Quảng Đà, đã an toàn vượt qua những trận càn quét khốc liệt của kẻ thù.
4. MƯỜI HAI LẦN TIỄN BƯỚC, MƯỜI HAI NỖI ĐAU TẠO NÊN LỊCH SỬ
4.1. Chín người con trai anh dũng hy sinh vì độc lập dân tộc
Chiến tranh bùng nổ, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, lần lượt từng người con trai của Mẹ Thứ xếp lại bút nghiên, từ biệt Mẹ và quê hương để lên đường ra mặt trận. Mẹ hiểu rằng, ra đi trong thời chiến là có thể không bao giờ trở về, nhưng vì độc lập của dân tộc, Mẹ vẫn nén chặt đau thương, tự tay chuẩn bị tư trang, động viên các con quyết tâm chiến đấu.
Trái tim người Mẹ đã phải nếm trải nỗi đau xé lòng đến 9 lần khi nhận giấy báo tử của 9 người con trai:
1. Liệt sĩ Lê Tự Xuyến: Người con trai đầu lòng của Mẹ, hy sinh năm 1948 trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Sự ngã xuống của anh Xuyến là nhát dao đầu tiên cứa vào lòng Mẹ, mở đầu cho chuỗi ngày đẵm nước mắt.
2. Liệt sĩ Lê Tự Hàn: Hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
3. Liệt sĩ Lê Tự Hãn: Hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.
4. Liệt sĩ Lê Tự Lê: Anh dũng ngã xuống trên chiến trường Quảng Nam khốc liệt.
5. Liệt sĩ Lê Tự Lem: Hy sinh trong một trận chiến đấu ác liệt với quân địch.
6. Liệt sĩ Lê Tự Nự: Cống hiến trọn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.
7. Liệt sĩ Lê Tự Tương: Ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc.
8. Liệt sĩ Lê Tự Chuyển: Chiến đấu và hy sinh anh dũng trên chiến trường.
9. Liệt sĩ Lê Tự Thịnh: Người con trai út của Mẹ. Bi kịch lịch sử đớn đau nhất diễn ra vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 – đúng ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước trọn niềm vui thống nhất. Chỉ vài giờ trước khi khúc khải hoàn ca vang lên trên khắp Bắc - Nam, người con trai út Lê Tự Thịnh đã ngã xuống tại cửa ngõ Đà Nẵng. Khi cả nước vỡ òa trong niềm vui chiến thắng, người dân reo hò đón mừng hòa bình, thì ở xóm Rừng, Mẹ Thứ lại lặng lẽ nhận tin báo tử cuối cùng. Bàn thờ nhà Mẹ lại thêm một nát hương, mâm cơm lại khuyết đi một người con trai.
4.2. Sự hy sinh của người con rể và hai người cháu ngoại
Nỗi đau mất con chưa dừng lại ở đó. Chiến tranh tàn khốc còn cướp đi những người thân yêu khác trong gia đình Mẹ:
Con rể Ngô Tường: Chồng của bà Lê Thị Trị (con gái đầu của Mẹ Thứ). Ông Ngô Tường cũng là một cán bộ cách mạng kiên trung và đã anh dũng hy sinh trên chiến trường.
Cháu ngoại Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Bình: Hai người con gái của bà Lê Thị Trị và ông Ngô Tường, tức hai người cháu ngoại yêu quý của Mẹ Thứ, cũng đã tiếp bước cha anh tham gia giao liên, du kích và hy sinh khi còn rất trẻ.
Bản thân bà Lê Thị Trị (con gái đầu của Mẹ) cũng chịu nỗi đau mất chồng, mất hai con gái và 9 người em trai. Bà Lê Thị Trị vừa là người đồng chí, vừa là người bạn đồng hành cùng Mẹ Thứ trong suốt những năm tháng đào hầm nuôi giấu cán bộ. Sau này, bà Lê Thị Trị cũng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Như vậy, duy nhất trong lịch sử Việt Nam, gia đình Mẹ Thứ có hai thế hệ Mẹ con đều là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
4.3. Bức ảnh mâm cơm chín bát đũa và nghị lực phi thường của Mẹ
Nhiều người từng hỏi: "Mẹ lấy đâu ra sức mạnh để sống sót và vượt qua 12 lần mất mát lớn lao đến thế?". Câu trả lời nằm ở tình yêu quê hương đất nước vô bờ bến và niềm tin sắt đá vào ngày chiến thắng của dân tộc.
Trong những năm tháng sau chiến tranh, Đại tá - Nhà báo, nhiếp ảnh gia Trần Hồng (Báo Quân đội Nhân dân) đã có cơ hội đến thăm và ghi lại những khoảnh khắc đời thường của Mẹ Thứ. Một trong những bức ảnh lịch sử xúc động nhất, lay động hàng triệu trái tim trong và ngoài nước, là hình ảnh Mẹ Thứ ngồi bên mâm cơm với 9 cái bát và 9 đôi đũa. Dù các con đã vĩnh viễn ra đi, trong tâm khảm của Mẹ, các anh vẫn luôn hiện diện bên Mẹ mỗi ngày. Mỗi bữa cơm, Mẹ vẫn xới cơm vào 9 cái bát, xếp 9 đôi đũa như ngày nào các con còn thơ dại bao quanh mâm cơm ấm cúng. Nỗi đau ấy thầm lặng, dai dẳng nhưng vô cùng cao cả và thiêng liêng.
5. BIỂU TƯỢNG VĨNH HẰNG VÀ DI SẢN CÒN MÃI VỚI SÔNG NÚI
5.1. Danh hiệu cao quý và sự tôn vinh của toàn dân tộc
Nhằm ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc và sự hy sinh vô bờ bến của Mẹ, ngày 17 tháng 12 năm 1994, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định trao tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho Mẹ Nguyễn Thị Thứ. Mẹ trở thành đại diện tiêu biểu nhất cho hàng vạn Mẹ Việt Nam Anh hùng trên khắp mọi miền Tổ quốc.
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội cùng đông đảo nhân dân, thế hệ trẻ cả nước và bạn bè quốc tế mỗi khi có dịp về Quảng Nam đều đến xóm Rừng dâng hương, thăm hỏi Mẹ. Trong một lần đến thăm, cựu Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nắm chặt bàn tay nhăn nheo của Mẹ và xúc động thốt lên: "Mẹ đã tiếp thêm nghị lực cho chúng con vững bước. Mẹ là Mẹ Việt Nam!".
Ngày 10 tháng 12 năm 2010, Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng, hưởng đại thọ 106 tuổi. Sự ra đi của Mẹ là một tổn thất lớn lao, để lại niềm thương tiếc vô hạn cho nhân dân cả nước. Lễ tang của Mẹ được tổ chức theo nghi thức cấp nhà nước với sự tham gia của đông đảo đại diện lãnh đạo Đảng, Chính phủ, LLVTND và hàng ngàn người dân Quảng Nam - Đà Nẵng. Mẹ yên nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sĩ thị xã Điện Bàn, bên cạnh những người con thân yêu của mình.
5.2. Quần thể Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng – Khúc ca bất tử bằng đá
Để tri ân sâu sắc Mẹ Nguyễn Thị Thứ cùng toàn thể các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng trong cả nước, Đảng và Nhà nước đã quyết định xây dựng Quần thể Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng mang tầm vóc quốc gia tại đỉnh núi Cấm, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Công trình nghệ thuật đồ sộ này được khởi công vào ngày 27/7/2009 và hoàn thành nhân kỷ niệm 40 năm Giải phóng Quảng Nam. Tượng đài được phác thảo bởi họa sĩ Đinh Gia Thắng và kiến trúc sư Nguyễn Luận, lấy nguyên mẫu từ hình tượng Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ.
Tượng đài được tạc bằng chất liệu đá sa thạch nguyên khối khổng lồ, khắc họa hình ảnh Mẹ Thứ với gương mặt nhân hậu, bao dung, mái tóc bạc phơ dang rộng vòng tay đón các con vào lòng. Từ hai bên tượng đài, những dòng nước trong mát chảy ra hồ nước lớn, biểu tượng cho tình Mẹ bao la như suối nguồn vô tận, nuôi dưỡng các thế hệ anh hùng dân tộc. Đây không chỉ là tượng đài lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á mà còn là một kiệt tác kiến trúc, văn hóa, tâm linh, là nơi thế hệ trẻ đến chiêm bái, tưởng niệm và soi rọi lại trách nhiệm của bản thân.
5.3. Bài học tri ân và trách nhiệm của thế hệ hôm nay
Cuộc đời Mẹ Nguyễn Thị Thứ là một pho tiểu thuyết anh hùng ca bằng đời thực. Sự hy sinh của gia đình Mẹ là minh chứng sống động nhất cho chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".
Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Mẹ (1904 – 2024), các cấp chính quyền, đoàn thể và nhân dân Quảng Nam cùng cả nước đã tổ chức nhiều hoạt động tri ân sâu sắc với chủ đề "Huyền thoại Mẹ – Tượng đài bất tử". Qua đó, nhắc nhở thế hệ hôm nay rằng: Hòa bình, độc lập mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay không phải tự nhiên mà có, mà được đánh đổi bằng xương máu của các anh hùng liệt sĩ và bằng vô vàn nước mắt của những người Mẹ Việt Nam.
Đối với thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên và cán bộ, chiến sĩ trẻ, tấm gương của Mẹ Thứ là bài học vô giá về lòng yêu nước, ý chí vượt khó, trách nhiệm phụng sự Tổ quốc và đạo lý "Uống nước nhớ nguồn".
6. KẾT LUẬN
Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ đã đi vào lịch sử dân tộc như một tượng đài bất tử của lòng yêu nước và đức hy sinh. Chín người con trai, một người con rể và hai người cháu ngoại của Mẹ ngã xuống trên chiến trường là những nốt trầm bi hùng nhất trong bản hùng ca chiến thắng của dân tộc Việt Nam.
Hình ảnh người Mẹ xóm Rừng lặng lẽ bên mâm cơm chín bát đũa, ngọn đèn dầu soi sáng hầm bí mật trong đêm tối hay Tượng đài sừng sững trên núi Cấm sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, nhắc nhở các thế hệ mai sau luôn trân trọng giá trị của hòa bình, độc lập và không ngừng nỗ lực xây dựng đất nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước.
Tên tuổi và di sản của Mẹ Thứ sẽ sống mãi cùng sông núi Việt Nam!
7. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1994), Danh sách các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng được phong tặng và truy tặng theo Quyết định số 317/CTN ngày 17/12/1994, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam (2015), Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ – Biểu tượng bất tử của lòng yêu nước, Tài liệu tuyên truyền lịch sử nhân kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7, Quảng Nam.
3. Báo Chính phủ (2024), Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ, Đăng ngày 27/07/2024. Nguồn trực tuyến: baochinhphu.vn.
4. Báo Quân đội Nhân dân (2010), Vĩnh biệt Mẹ Nguyễn Thị Thứ – Người mẹ có 12 liệt sĩ, Đăng ngày 12/12/2010. Nguồn trực tuyến: qdnd.vn.
5. Báo Công an TP. Hồ Chí Minh (2020), Mẹ Thứ – Biểu tượng vĩnh hằng của Mẹ Việt Nam Anh hùng, Đăng ngày 29/04/2020. Nguồn trực tuyến: congan.com.vn.
6. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (2018), Hiện vật kỷ vật kháng chiến: Chiếc nồi đồng của Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ, Hà Nội.
7. Tạp chí Xưa & Nay (2015), Chuyên đề Nguyễn Thị Thứ – Biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, Số tháng 7/2015, Nhà xuất bản Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.


