Tướng Đàm Quang Trung - Tài tình chỉ huy lực lượng vũ trang Quân khu 1 cùng dân quân tự vệ các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông tạo nên một thế trận phòng thủ kiên cường
Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục vạn quân cùng xe tăng, pháo binh ồ ạt tràn qua biên cương sáu tỉnh từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh).

Tháng 2 năm 1979, biên giới phía Bắc bùng lên tiếng gầm của đại bác. Đối phương huy động hàng chục vạn quân cùng xe tăng, pháo binh ồ ạt tràn qua biên cương sáu tỉnh từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh). Hướng tiến công trọng yếu nhất nhắm vào dải địa bàn Quân khu 1, đặc biệt là hai mặt trận then chốt: Lạng Sơn và Cao Bằng.
Giữa cơn bão lửa ấy, người gánh vác trọng trách Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1 là Trung tướng Đàm Quang Trung.

Tướng Đàm Quang Trung và Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng tại chỉ huy sở tiền phương. Ảnh: Báo Dân Việt
Đàm Quang Trung (tên thật là Đàm Ngọc Lưu), người con ưu tú của đồng bào dân tộc Tày sinh ra tại Quảng Hòa, Cao Bằng. Ông là một trong 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thành lập năm 1944 dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vị tướng dạn dày trận mạc ấy thấu hiểu từng vách đá, triền đồi, từng con suối, hẻm rừng của dải biên cương Đông Bắc như chính lòng bàn tay mình.
Trước khi tiếng súng bùng nổ, khi những động thái chuyển quân dồn dập ở bờ bên kia biên giới ngày một rõ rệt, Trung tướng Đàm Quang Trung đã không ngồi yên trong sở chỉ huy. Ông liên tục lội bộ qua các đồn biên phòng, điểm chốt tiền tiêu dọc Đồng Đăng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Bản Lầu để kiểm tra hệ thống công sự. Ông nhận định: Nếu chiến tranh nổ ra, đối phương sẽ dùng chiến thuật "biển người" kết hợp hỏa lực áp đảo đánh nhanh thọc sâu dọc theo các trục đường quốc lộ.
Từ sự am hiểu sâu sắc về địa hình hiểm trở của vùng cao, Tướng Đàm Quang Trung đã đề ra phương châm tác chiến chuẩn xác: Biến mỗi quả đồi, vách đá tai mèo thành một pháo đài thép; lấy thế trận chiến tranh nhân dân nhiều tầng nấc để chặn đứng và bẻ gãy đà tiến quân của các sư đoàn cơ giới đối phương.
Rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, khi pháo binh địch dội bão lửa xuống thị xã Cao Bằng và dải biên giới Lạng Sơn, sở chỉ huy Quân khu 1 lập tức chuyển sang chế độ thời chiến khẩn cấp.
Tại căn hầm chỉ huy dã chiến, điện đàm réo liên hồi, báo cáo thương vong và tin tức quân địch chọc thủng một số điểm chốt dồn về như thác lũ. Không khí căng thẳng đến nghẹt thở. Giữa lúc ấy, Trung tướng Đàm Quang Trung vẫn giữ phong thái điềm tĩnh lạ lùng. Đôi mắt tinh anh của người con núi rừng ánh lên sự quyết đoán, ông đứng trước tấm bản đồ quân sự địa hình, tay giữ chắc điếu thuốc, giọng đanh thép phát từng mệnh lệnh rõ ràng, mạch lạc:
– Các đơn vị không được hoang mang dao động! Địch đông nhưng địa hình đèo dốc hiểm trở là của ta. Cho các đồn biên phòng và bộ đội địa phương bám chắc công sự, kiên quyết ghìm chân địch tại chỗ. Bộ binh ta phân tán thành từng tổ tam tam, triệt để khai thác các hang đá, hẻm núi để bắn tỉa và đánh chặn xe tăng địch!
Dưới sự chỉ đạo tài tình của ông, lực lượng vũ trang Quân khu 1 gồm các sư đoàn chủ lực, các trung đoàn bộ đội địa phương phối hợp cùng dân quân tự vệ các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông đã tạo nên một thế trận phòng thủ kiên cường:
Tại Lạng Sơn, trên hướng Đồng Đăng, Tam Lung, điểm cao Thám Mô, quân ta kiên cường bám trụ từng mét chiến hào, đẩy lùi hàng chục đợt xung phong biển người của đối phương, tiêu diệt hàng trăm xe bọc thép.
Tại Cao Bằng, trên đường số 3 và đường Thông Nông, dù bị địch bao vây nhiều phía, các lực lượng tại chỗ dưới sự điều hành của Tư lệnh Đàm Quang Trung đã tổ chức phục kích liên tục, đánh tỉa vào đội hình hành quân cơ giới, triệt phá các đoàn xe vận tải hậu cần, khiến mũi tiến công của quân đoàn địch bị chậm lại và sa lầy nghiêm trọng.
Không chỉ chỉ đạo chiến thuật trên sa bàn, Tướng Đàm Quang Trung còn nhiều lần bất chấp bom pháo gầm rú, trực tiếp đi thị sát các trận địa phòng ngự phía sau tiền duyên. Thấy các chiến sĩ trẻ và đồng bào địa phương dầm mưa rét bám chốt nhịn đói, ông chia từng mẩu lương khô của mình cho bộ đội, ân cần siết chặt tay từng chiến sĩ và căn dặn: – Rừng núi này là mồ chôn giặc ngoại xâm từ thuở ông cha ta đánh Tống, phá Nguyên. Bà con, bộ đội cứ vững tâm, đánh chắc từng trận, giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc!
Lời hiệu triệu mộc mạc mang khí phách núi rừng của vị tướng tư lệnh đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần to lớn cho hàng vạn tay súng nơi tuyến đầu. Dù chênh lệch lớn về quân số và hỏa lực, thế trận phòng ngự chủ động do Trung tướng Đàm Quang Trung dày công tổ chức đã bẻ gãy ý đồ "đánh nhanh, thắng nhanh" của đối phương, gây cho đối phương tổn thất nặng nề về sinh lực và khí tài, buộc họ phải tuyên bố rút quân chỉ sau gần một tháng tham chiến.
Sau cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, với những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp quân sự, ông được thăng quân hàm Thượng tướng vào năm 1984, sau đó giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Phó Chủ tịch nước) kiêm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc.
Bằng bản lĩnh kiên cường, tư duy chiến thuật sâu sắc gắn liền với nghệ thuật quân sự truyền thống và lòng gắn bó máu thịt với đồng bào biên cương, Thượng tướng Đàm Quang Trung đã khắc sâu tên tuổi mình vào lịch sử hào hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam – một vị tướng đại ngàn đã cùng quân dân giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.


