Tướng Lê Trọng Tấn- một trong những vị tướng đánh trận giỏi nhất Việt Nam.
Tướng Lê Trọng Tấn- một trong những vị tướng đánh trận giỏi nhất Việt Nam.
Xuất thân của tướng Lê Trọng Tấn
Xuất thân từ một gia đình nhà giáo, thời niên thiếu, ông theo học trường Bưởi tại Hà Nội. Vốn học giỏi, lại say mê võ nghệ và bóng đá, ông từng tham gia đội bóng Eclair (Tia chớp) ở vị trí tiền vệ. Do thành tích bóng đá, ông được tuyển vào đội bóng đá của không quân Pháp và nhập ngũ vào lực lượng lính khố đỏ, phục vụ tại đơn vị đồn trú gần sân bay Tông (Sơn Tây). Do ông từng đeo đến đeo lon đội (tương đương với cấp hàm Hạ sĩ), nên dân làng Yên Nghĩa (gần sân bay Tông), thường gọi ông là "Đội Tố". Bà Bích Vân tức Hoàng Ngân khi đó đang phụ trách công tác phụ vận kiêm binh vận của Xứ ủy Bắc Kỳ và một số nhân mối khác được giao nhiệm vụ binh vận Đội Tố và đã thành công. Tham gia Việt Minh từ năm 1944 và là ủy viên quân sự Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Hà Đông từ tháng 8 năm 1945, sau Cách mạng tháng Tám, ông trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.
Quá trình công tác
Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ năm 1946, ông tham gia công tác quân sự. Từ 1945 đến 1950, là trung đoàn phó rồi trung đoàn trưởng các trung đoàn: Sơn La, Sơn Tây, quyền khu trưởng Khu XIV, khu phó Liên khu X. Khi Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập các đại đoàn chủ lực, ông trở thành Đại đoàn trưởng đầu tiên của đại đoàn 312-đại đoàn Chiến thắng (nay là Sư đoàn) ở tuổi 36.
Trong trận Điện Biên Phủ, đại đoàn 312 do ông chỉ huy đã đánh trận mở màn vào cao điểm Him Lam (13 tháng 3 năm 1954) và kết thúc chiến dịch vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, bắt sống tướng Christian de Castries và ban chỉ huy tập đoàn cứ điểm.
Từ tháng 12 năm 1954 đến năm 1960 ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân. Năm 1959, ông được phong hàm Đại tá.
Trực tiếp chỉ huy mặt trận
Từ tháng 3 năm 1961 đến năm 1969 là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1964, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn nhận nhiệm vụ Phó tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Uỷ viên Quân uỷ Miền với bí danh "Ba Long". Ông chính là một trong những người tham gia tổ chức chiến dịch Mậu Thân 1968 cùng với Hoàng Văn Thái.
Năm 1970 - 1979, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm Tư lệnh Mặt trận Đường 9, đặc phái viên Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Bộ chỉ huy Quân giải phóng nhân dân Lào, tham gia chỉ đạo chiến dịch Cánh Đồng Chum. Trong chiến dịch đó, sau khi nghe báo cáo tình hình hai bên, ông nói: “Đánh trận này, ba đời sau Thái Lan còn sợ!”.
Năm 1972, ông được cử làm Tư lệnh Chiến dịch Trị Thiên. Chỉ sau 1 tháng, phòng tuyến của Mỹ-VNCH ở đây bị ông chỉ huy đánh tan vỡ, quân VNCH bị tổn thất nặng. Trước thất bại này, đại tướng Mỹ Creighton Abrams rất tức giận khi các tướng VNCH đổ lỗi thất bại cho việc thiếu vũ khí. Ông ta quát mắng rằng quân VNCH thất bại vì họ hèn nhát: "Họ không mất xe tăng vì bị quân địch phá hủy. Họ mất xe tăng vì, mẹ kiếp, họ vứt bỏ chúng." Abrams cũng to tiếng với Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: "Trang thiết bị không phải là điều các ông cần. Cái các ông cần là những sĩ quan chỉ huy và binh sĩ dám chiến đấu... Các ông đã đánh mất gần hết đại bác vì chúng bị vứt bỏ."
Các chức vụ ông từng làm
Năm 1973, là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm Tư lệnh Quân đoàn I Quyết thắng, quân đoàn đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 3 năm 1975, ông làm Tư lệnh chiến dịch Huế - Đà Nẵng.
Tháng 4 năm 1975, ông được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía đông (gồm quân đoàn 2, quân đoàn 4, sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn. Chính Lữ đoàn xe tăng 203, quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên.
Từ năm 1976 đến tháng 2 năm 1977 ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Viện trưởng Học viện quân sự cao cấp.
Từ tháng 12 năm 1978 đến tháng 2 năm 1979 ông chỉ huy các lực lượng vũ trang trong chiến tranh biên giới Tây Nam và đánh quân Khmer Đỏ của Pol Pot ở Campuchia.
Từ năm 1980 đến năm 1986 ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1984, Bộ Chính trị chỉ định làm Uỷ viên Hội đồng Quân sự Bộ Quốc phòng.
Các huân chương và danh hiệu ông được nhà nước phong tặng
Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng:
Huân chương Sao vàng (truy tặng năm 2007).
2 Huân chương Hồ Chí Minh.
Huân chương Quân công hạng Nhất.
Huân chương Quân công hạng Ba.
Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất.
Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhì.
Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Ba.
Huy chương Quân kỳ quyết thắng.
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba cùng nhiều huân, huy chương khác.



