- Đại tướng Nguyễn Quyết sinh năm 1922, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (1987-1991), năm 1992 là Phó chủ tịch Hội đồng nhà nước.
Quê quán: xã Chính Nghĩa, huyện Kim Đông, tỉnh Hưng Yên. Đồng chí tham gia cách mạng từ năm 1939, nhập ngũ tháng 8 năm 1945, được phong hàm Đại tướng năm 1990, là đảng viên Đảng CSVN từ năm 1940. Năm 1942 là uỷ viên Ban cán sự Đảng tỉnh Hưng Yên. Năm 1943 đến 1945 là uỷ viên Ban cán sự Đảng, uỷ viên chính trị Uỷ ban quân sự Hà Nội, chính trị viên Chi đội 2 Vệ quốc quân.
Trong kháng chiến chống Pháp:
Năm 1946 là Chính trị viên Chi đội 1 (chi đội chủ lực của Uỷ ban kháng chiến miền Nam); Trưởng phòng chính trị, Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Đại đoàn 31.
Năm 1947 đến 1952 là Chính uỷ Mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng, uỷ viên quân sự trong Uỷ ban kháng chiến liên tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng; Chính uỷ các trung đoàn: 108 và 803.
Năm 1953 đến 1955 là chủ nhiệm chính trị liên khu 5; Phó chhính uỷ, Chính uỷ Đại đoàn 305.
Trong kháng chiến chống Mỹ:
Năm 1955 đến 1963 là quyền chính uỷ, Chính uỷ Quân khu Tả Ngạn.
Năm 1964 đến 1968 là Phó chính uỷ, Chính uỷ Quân khu 3; Chính uỷ Quân khu Tả Ngạn; Phó chính uỷ Quân khu Trị-Thiên, kiêm Chính uỷ Mặt trận B8 (Quân khu Trị-Thiên).
Năm 1969 đến 1976 là Chính uỷ: Quân khu Tả Ngạn, Học viện Quân sự, Quân khu 3.
Năm 1977 đến 1980 là chính uỷ, kiêm Tư lệnh Quân khu 3.
Năm 1981 đến 1986 là Tư lệnh, Bí thư Đảng uỷ Quân khu 3.
Tháng 4 năm 1986 đến 1987 là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
Năm 1987 đến 1991 là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương.
Năm 1992 là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Đồng chí là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN từ khoá IV đến khoá VI ( Uỷ viên Ban Bí thư khoá VI). Là Đại biểu Quốc hôi các khoá IV, VII, VIII; được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân Chương Quân Công hạng nhất, Huân chương chiến công hạng nhất, Huân chương chiến thắng hạng nhất.
Trong gần trọn cuộc đời hoạt động cách mạng, trải qua nhiều cương vị, nhiều nhiệm vụ, nhiều địa phương, dù phải trải qua nhiều gian khổ hy sinh, đồng chí Nguyễn Quyết luân phấn đầu cùng đơn vị, địa phương làm tròn nhiệm vụ Đảng giao cho. Cũng trải qua 55 năm hoạt động, qua khởi nghĩa, chiến tranh cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng chí Nguyễn Quyết luôn đúc rút được những bài họ quý báu và phong phú từ thực tiễn, trong đó có những năm tháng trên chiến trường Liên khu 5.
Khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù ta đã có chính quyền, có quân đội nhưng tất cả đều còn non trẻ, gặp muôn vàn khó khăn. Đảng ta chủ trương xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng ba thứ quân, thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tự lực cánh sinh kháng chiến lâu dài để giành thắng lợi quyết định.
Kiên định và sáng tạo trên nguyên tắc đường lối chủ trương của Đảng, đồng chí đã cùng Đảng bộ, chính quyền và quân dân Liên khu 5 tập trung xây dựng lực lượng chủ lực, lực lượng vũ trang mạnh ngay từ đầu, quyết tâm thắng địch, giữ vững vùng tự do rộng lớn làm căn cứ và hậu phương vững chắc không những cho bản thân chiến trường Liên khu 5 mà cả các chiến trường Nam Đông Dương; thực hiện lấy súng địch đánh địch, sản xuất để tự túc, giải quyết hậu cần tại chỗ đảm bảo chiến đấu lâu dài; tập trung vào trọng điểm, bước đầu thực hiện ba chức năng của quân đôi, xây dựng chủ lực mạnh để tự giải quyết chiến trường góp phần quan trọng với chiến trường toàn quốc.
Riêng ở Quảng Nam-Đà Nẵng, chiến trường chính của Liên khu 5, nơi đồng chí Nguyễn Quyết trực tiếp phụ trách từ 1964-1950, mặc dù địch có ưu thế hơn ta về lực lượng và binh khí kỹ thuật nhưng ta đã thắng ngay từ thời kỳ địch tiến công ồ ạt, giữ vững vùng tự do, phá tan âm mưu đánh chiếm đến vĩ tuyến 16, chia cắt chiến trường Nam Đông Dương với chiến trường chính Bắc Bộ. Suốt chín năm kháng chiến, Quảng Nam-Đà Nẵng là nơi có phong trào chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích mạnh. Điều đó đã tạo điều kiện cho chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng vừa tác chiến, vừa trưởng thành, vừa tác chiến vừa xây dựng lực lượng góp phần xứng đáng cả về lực lượng, kinh nghiệm xây dựng, chiến đấu với chiến trường Liên khu 5.
Những điều tâm đắc nhất, sâu sắc nhất của đồng chí Nguyễn Quyết trong những ngày tháng ở chiến trường Liên khu 5 là cơ sở vững chắc xuyên suốt con đường cách mạng mà đồng chí đã chọn. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh« Trả lời #2 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:04:58 am » |
NHỮNG NĂM THÁNG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Ở "KHU NĂM DẰNG DẶC KHÚC RUỘT MIỀN TRUNG" TỪ 11/1945 ĐẾN 1/1955 Cách mạng tháng Tám thành công, nước ta trở thành một nước độc lập. Đó là thắng lợi rất vĩ đại, một kỳ tịch trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam, đồng thời mở ra cho cao trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ, giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa của thế kỷ XX. Chính quyền cách mạng non trẻ của nhân dân đứng ra đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Nhưng Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định " đây chỉ là thắng lợi buốc đầu". Với âm mưu và tham vọng của bè lũ đế quốc, trực tiếp là đế quốc Pháp, Đảng và nhân dân ta còn phải tiếp tục chiến đấu gay go và phức tạp để hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Đúng như Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, ngày 23 tháng 9 năm 1945, được quân Anh và tàn quân Nhật tiếp sức, thực dân Pháp mở cuộc tiến công Sài Gòn, tiến hành cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Sau chưa đầy một tháng giành được chính quyền từ tay phát xít Nhật, nhân dân Sài Gòn lại buộc phải cầm súng chống kẻ thù xâm lược.
Khác với thời kỳ vận động Cách mạng tháng Tám, bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần này, tuy giữa muôn vàn khó khăn, chính quyền cách mạng còn non trẻ, nền kinh tế kiệt quệ, lực lượng vũ trang còn quá nhỏ bé, nhưng chúng ta có thuận lợi rất cơ bản là đã có chính quyền, có lực lượng toàn dân đoàn kết, làm chủ đất nước, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được. Đảng ta đã có kinh nghiệm trong lãnh đạo Cách mạng tháng Tam, từ tay không giành lấy chính quyền, thấy được âm mưu, thủ đoạn của địch, dự kiến đường lối và những điều kiện cơ bản cho cuộc kháng chiến để páht huy thế mạnh tuyệt đối về tinh thần, kiên quyết bảo vệ nên độc lập, tự do của đất nươc vừa giành được.
Thường vụ Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh hạ quyết tâm vừa kháng chiến vừa kiến quốc, kêu gọi nhân dân cả nước chi viện sức người, sức của, đưa những đội quân tinh nhuệ, cử nhiều cán bộ ưu tú tăng cường cho miền Nam, đồng thời tranh thủ xây dựng, củng cố lực lượng về mọi mặt để chuẩn bị kháng chiến.
Mặc dù đời sống nhân dân miền Bắc gặp vô vàn khó khăn trong những ngày đầu mới giành được độc lập, song hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng về Nam Bộ, đồng bào miền Bắc đã dấy lên một phong trào chi viện sức người, sức của hết sức sôi nổi, mạnh mẽ.
Phát huy khí thế hừng hực của những ngày khởi nghĩa, lớp lớp thanh niên miền Bắc trong đó có thành niên Hà Nội hăm hở tình nguyện lên đường vào Nam sát cánh cùng đồng bào Nam Bộ chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược.
Những ngày đó ở Hà Nội cũng như các địa phương khác, sục sôi một không khí hào hùng vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Những đoàn quân Nam tiến rầm rập lên đường vào Nam chiến đấu trở thành hình ảnh của " cả nước ra trận", " Nam-Bắc một nhà". Danh sách những người tình nguyện vào lực lượng vũ trang và đội quân Nam tiến vượt xa yêu cầu của trên đề ra, gồm đủ thành phần, tấng lớp, tồn giáo, dân tộc. Rất nhiều thanh niên, phụ nữ, thiếu niên, bao gồm các tầng lớp công nhân, nông dân, thợ thủ công, sinh viên, học sinh, trí thức, công chức, kiều bào vừa về nước và cả một số nhà tu hành cũng ghi tên tình nguyện. Tất cả đều quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, từ kinh nghiệm trong xây dựng và tổ chức chỉ huy lực lượng vũ trang trước và trong khởi nghĩa, Thường vụ Trung ương và Xứ uỷ phân công tôi tiếp tục phụ trách quân sự ở Hà Nội, đồng thời về các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, hà Nam, Nam Định, Ninh Bình tổ chức xây dựng lực lượng chủ lực ở các địa phương ấy. Lúc đầu, tôi phụ trách cả quân sự và chính trị, đến cuối tháng 9 năm 1945, anh Vương Thừa Vũ được Trung ương điều về phụ trách quân sự, tôi làm chính trị viên.
Cuối tháng 11 năm 1945, sau khỉ tổ chức chấn chỉnh lực lượng tự vệ và củng cố năm tiểu đoàn chủ lực ở Hà Nội và hai chi đội ở các tỉnh nói trên, với nhiệt tình tuổi trẻ, tôi đề nghị Trung ương được vào Nam chiến đấu. Nguyện vọng đó được cấp trên chấp nhận và giao cho tôi nhiệm vụ về Ninh Bình tổ chức một Chi đội mới chuẩn bị Nam tiến. Chi đội mang tên Chi đội 1, gồm một tiểu đoàn giải phóng quân từ Chiến khu Việt Bắc về, một bộ phận của Chi đội Hà Nam Ninh và một bộ phận của Chi đội Hải Phòng-Quảng Yên được Bộ Quốc Phòng điều lên. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:06:31 am » |
Không khí nô nức lên đường vào Nam chiến đấu tràn ngập khắp nông thôn, thành phố. Đầu tháng 12 năm 1945, Chi đội đã lên đường (Chi đội do anh Thịnh làm Chi đội trưởng, tôi làm Chính trị viên). Khác với Chi đội đi trước, chỉ đi người không, còn vũ khí phải chuyên chở bằng đường biển, lần này, do Chính phủ ta khéo léo thương thượng với bọn Tưởng nên Chi đội 1 được mang theo một số lượng đáng kể vũ khí.
Chi đội xuất phát từ ga Ghềnh (Ninh Bình). Qua các ga đều có nhân dân đứng vẫy cháo tiễn đưa với băng cờ, khẩu hiệu hoan nghênh nhiệt liệt. Ở các ga lớn, tàu dừng lâu hơn, có đại diện quân-dân-chính-đảng địa phương ra đón tiếp. Đặc biệt rất đông các mẹ, chị em phụ nữ, các chấu thiếu nhi đến thăm hỏi, tặng quà, tiễn đưa lưu luyến. Anh em ai nấy đều rất xúc động.
Đơn vị vào đến Quảng Ngãi thì được lệnh dừng lại gặp Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Sơn làm Chủ tịch để nhận nhiệm vụ. Lúc bấy giờ, quân Pháp đã phá được vòng vây Nha Trang, mở rộng phạm vi chiếm đóng ra các vùng xung quanh và tiến công lên Tây Nguyên.
Sau một thời gian được huấn luyện cấp tốc về chính trị, quân sự, Chi đội được chia làm hai bộ phận: Một bộ phận tham gia chiến đấu ở Vạn Giã (bắc Khánh Hoà), một bộ phận lên chiến đấu ở An Khê (Gia Lai).
Chi đội 1 cũng như các đơn vị Nam tiến khác, tuy lực lượng không lớn, nhưng rất quan trọng, là đội quân chủ lực đi đầu trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến đấu dũng cảm, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, góp sức cùng nhân dân miền Nam chiến đấu làm chậm bước tiến của quân xâm lược Pháp và đã chiến thắng địch ngay từ đầu, thể hiện tinh thầnh cả nước đồng lòng cùng nhau chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, tạo sức mạnh to lớn của đại đoàn kết dân tộc, của sự đoàn kết Bắc-Nam. Nhân dân hết sức tin tưởng, yêu quý và khâm phục bộ đội Nam tiến. Điều đó cũng chứng tỏ Đảng ta đã có chủ trương sáng suốt, quyết tâm cao, huy động lực lượng toàn dân vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, kịp thời điều động quân chủ lực (các đơn vị Nam tiến) đánh tan cuộc "dạo mát quân sự", làm đảo lộn chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" đến vĩ tuyến 16 của Pháp, giữ vững vùng tự do làm hậu phương lớn, tạo điều kiến cho cacs tỉnh phía sau có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm theo dõi cuộc chiến đấu của quân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành những tình cảm thắm thiết nhất, luôn để miền Nam trong trái tim mình. Tháng 12 năm 1945, đồng chí Lê Văn Hiến được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử làm đặc phái viên của Chính phủ vào Nam Trung Bộ để chuyển thư thăm hỏi của Người tới quân dân Man Bộ và Nam Trung Bộ. Trong thư Bác viết:
" Từ ba tháng nay, các anh chị em đã đem xương máu ra để giữ từng tấc đất của Tổ quốc.
Tôi và tất cả đồng bào ở Bắc Bộ và phía Bắc Trung Bộ, đã bao nhiêu lần tức giận khi nghe bọn thực dân Pháp đạp lên mảnh đất của ông cha ta, giết hại nòi giống ta...đã bao nhiêu lần hồi hộp, cảm động trước những gương hy sinh vô cùng anh dũng của những người con yêu của Tổ quốc. Do đó, tôi càng tin chắc rằng: với một nước đã có những người con như thế, anh hùng như thế, đã có một khối đoàn kết toàn dân như thế, nước ta nhất định không bị mất một lần nữa.
Để bảo vệ Tổ quốc, chúng ta còn phải chiến đấu nhiều. Chỉ có chiến đấu mới vượt qua được trở lực, khó khăn, chỉ có chiến đấu mới đưa lại vẻ vang cho Tổ quốc. Các bạn ở tiền tuyến không bao giờ cô độc, vì đã có cả một khối toàn dân đoàn kết làm hậu thuẫn cho mình. Thắng lợi nhất định thuộc về ta".
Sự quan tâm, khích lệ, cổ vũ đó của lãnh tụ tối cao của dân tộc là một nguồn lực để quân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ có thêm sức mạnh kiên quyết chiến đáu bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám.
Ở Nam Trung Bộ, từ giữa năm 1946, sau khi chiếm được một số thị xã, đường giao thông ở các tỉnh cực Nam và Tây Nguyên, địch không thể lấn chiếm được nữa, tuyệt đại đa số vùng nông thôn các tỉnh đồng bằng ven biển và Tây Nguyên vẫn do ta kiểm soát.
Trong thời gian này, Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam chủ tương tranh thủ củng cố, sắp xếp lại lực lượng, mở trường lớp bồi dưỡng về chính trị, quân sự cho cán bộ, chiến sỹ. Số cán bộ Nam tiến một phần trở về miền Bắc, còn phần lớn ở lại tiếp tục chiến đấu ở các mắt trận Nam Trung Bộ. Tôi là một trong những cán bộ được giữ lại ở Liên khu 5. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:08:16 am » |
Theo chủ trương của Trung ương, Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam cải tổ các Chi đội vệ quốc quân và phiên chế lại thành 11 trung đoàn và một tiểu đoàn độc lập; giải thể các chiến khu 5, 6 (đã được thành lập từ tháng 10 năm 1945) và tổ chức thành ba Đại đoàn: Đại đoàn 23, Đại đoàn 27 và Đại đoàn 31.
Tôi đươc phân công làm chính trị viên Đại đoàn 31 gồm các trung đoàn 68, 69, 93, 96, cơ quan Đại đoàn đóng ở Tam Kỳ (Quảng Nam). Đại đoàn có nhiệm vụ tác chiến ở tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi.
Nắm được âm mưu địch, để tăng cường sự lãnh đạo của DẢng ở một hướng chiến lược quan trọng, tháng 11 năm 1946, Trung ương Đảng và Chính phủ cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm đại diện vào trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến ở Nam Trung Bộ, với nhiệm vụ chính trị hàng đầu là phải kiên cường chặn đánh các cuộc tiến công lớn của địch, giữ vững vùng tự do, góp phần cùng cả nước đánh bại kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh: của thực dân Pháp. Thro chủ trương của Trung ương, giải thể Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và các Đại đoàn, tái lập Khu 5, Khu 6; thành lập Uỷ an Quân sự để chỉ đạo trực tiếp cuộc chiến đấu ở các tỉnh Nam Trung Bộ.
Tôi được điều về Bộ Tư lệnh Khu 5, tham gia Đảng uỷ quân sự khu. Bộ Tư lệnh Khu 5 phân công tôi làm phái viên ở mắt trận Quảng Nam-Đà Nẵng, tham gia phân quân khu uỷ. Phân quân khu uỷ có ba người do anh Huỳnh Ngọc Huệ làm bí thu, tôi và anh Đàm Quang Trung là uỷ viên. Vài tháng sau, tôi được cử làm bí thư thay anh Huỳnh Ngọc Huệ đi nhận công tác khác. Từ đó, tôi liên tục gắn bó với chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng cho tới cuối năm 1950.
Với tham vọng trở lại thống trị nhân dân ta một lần nữa, thực dân Pháp bất chấp thái độ thiện chí của Đảng, Chnhs phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ta càng nhân nhượng, chúng càng lấn tới.
Không còn con đường nào khác, với tinh thần: " Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", ngày 19 tháng 12 năm 1946, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Mục tiêu trước mắt của quân Pháp vẫn là các thành phố, trọng điểm là thủ đô Hà Nội ở miền Bắc và thành phố Đà Nẵng ở miền Trung.
Đà Nẵng là hải cảng lơn, là cửa ngõ của miền Trung Tổ quốc. Theo Hiệp định sơ bộ ngày 06 tháng 3 năm 1946, quân Pháp được đưa vào Đà Nẵng 225 tên thay cho quân Tưởng Giới Thạch. Sau nhiều lần tăng quân trái phép, đến tháng 12 năm 1946, quân Pháp ở Đà Nẵng đã lên tới gần bảy ngàn tên, với những vũ khí và trang bị chiến tranh hiện đại như xe tăng, xe bọc thép, pháo bình và nhiều vũ khí bộ binh tối tân.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Phạm Văn Đồng và Khu uỷ, Bộ Tư lệnh Khu 5, lực lượng chiến đấu ở Quảng Nam-Đà Nẵng gồm có Trung đoàn 93 chịu trách nhiệm ở vòng ngoài và Trung đoàn 96- Trung đoàn chủ lực của Khu (do cán bộ và chiến sỹ Nam tiến làm nòng cốt)- chịu trách nhiệm chiến đấu ở nội thành.
Mục đích của ta là giam chân địch trong thành phố, còn địch thì muốn mở rộng chiếm đóng ra các vùng nông thôn rộng lớn. Sự đối chọi mục đích ấy dẫn đến cuộc chiến đấu ở đây đã diễn ra quyết liệt ngay từ ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Lực lượng vũ trang của ta tuy còn non trẻ, nhưng bộ đội chủ lực đến dân quân tự vệ, từ nội thành đến ngoại thành, đều chiến đấu với tinh thầnh rất dũng cảm, dám xả thân để bảo vệ từng căn nhà, đoạn đường, góc phố của thành phố. Sau nhiều ngày đêm chiến đấu liên tục, đạn, lựu đạn đã hết, nhiều đơn vị phải dùng lưỡi lê, báng súng đánh giáp lá cà để đánh bật địch ra khỏi chiến hào, có tiểu đội anh em dũng cảm chiến đấu đến người cuối cùng. Nhân dân Quảng Nam-Đà Nẵng đã sát cánh với lực lượng vũ trang thực hiện " vườn không nhà trống", bất hợp tác với địch, đào hào, đắp ụ, xây dựng công sự, phá hoại cầu, đường, vận chuyển chăm sóc thương binh, phục vụ chiến đấu.
Sau hơn một tháng chiến đấu kiên cường, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và sự chỉ huy của Uỷ ban Quân sự, quân dân Quảng Nam-Đà Nẵng đã thực hiện đúng đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta. Trên địa bàn thành phố, lực lượng vũ trang ta do vệ quốc quân làm nòng cốt, đã anh dũng chiến đấu ngăn chặn, bao vây, ghìm chân, tiêu hao nhiều sinh lực địch và bảo toàn lực lượng ta để kháng chiến lâu dài. Cuộc vây hãm địch ở Đà Nẵng đã góp phần tạo điều kiện cho quân, dân cả nước mà trực tiếp là các tỉnh đồng bằng Khu 5 có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến lâu dài, làm thất bại bước đầu kế hoạch lần thứ hai " đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp. | |
|
|