Tướng quân Cao Thắng – Phó tướng kiệt xuất của khởi nghĩa Hương Khê, người chế tạo thành công súng trường đánh Pháp khiến cả giặc Tây kinh ngạc (1864 – 1893).
Một tấm gương danh tướng xuất thân nông dân kiệt xuất, nhà tổ chức quân sự thiên tài và là "ông tổ ngành quân giới Việt Nam" chống thực dân Pháp chính là Tướng quân Cao Thắng – Phó tướng kiệt xuất của khởi nghĩa Hương Khê, người chế tạo thành công súng trường đánh Pháp khiến cả giặc Tây kinh ngạc (1864 – 1893).
Xuất thân nghèo khó và cơ duyên với phong trào yêu nước
Cao Thắng (sinh năm 1864, quê ở làng Sơn Lễ, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Ngay từ nhỏ, ông đã bộc lộ tính cách thông minh, gan dạ, hiếu động và rất ham mê luyện tập võ nghệ.
Năm 10 tuổi, ông từng làm liên lạc cho nghĩa quân Cờ Vàng chống Pháp. Sau khi phong trào tan rã, ông được người anh ruột của Phan Đình Phùng là Phan Đình Thuật đưa về nuôi dưỡng. Năm 1885, khi Phan Đình Phùng dựng cờ khởi nghĩa Cần Vương tại Hà Tĩnh, Cao Thắng gia nhập nghĩa quân và mau chóng trở thành trợ thủ đắc lực nhất, được tin cậy giao giữ chức Quản cơ khi mới 21 tuổi.
Trợ thủ đắc lực và tổng chỉ huy tài ba
Đầu năm 1887, khi phong trào kháng Pháp ở Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn, Phan Đình Phùng ra Bắc tìm kiếm sự hỗ trợ và liên kết lực lượng. Ông tin tưởng giao toàn bộ quyền chỉ huy nghĩa quân Hương Khê lại cho Cao Thắng.
Trong thời gian chủ tướng vắng mặt, Cao Thắng đã thể hiện tài năng tổ chức quân sự xuất sắc:
Tổ chức 15 quân thứ: Ông quy tụ lực lượng, chia nghĩa quân thành 15 quân thứ đóng tại các vùng núi hiểm yếu thuộc 4 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.
Rèn luyện kỷ luật thép: Xây dựng hệ thống đồn lũy kiên cố tại Ngàn Trươi, Vụ Quang, quy định kỷ luật nghiêm minh và huấn luyện tác chiến bài bản cho hàng nghìn nghĩa quân.
Kỳ tích "Kỹ sư quân giới chân đất" – Đúc súng trường đánh Pháp
Chiến công lừng lẫy nhất của Cao Thắng làm rạng danh lịch sử quân sự Việt Nam chính là chế tạo thành công súng trường kiểu 1874 (súng Gras) của Pháp.
Nhận thấy giáo mỡ, súng kíp thô sơ của ta không thể chọi lại hỏa lực đại bác và súng trường hiện đại của giặc, Cao Thắng quyết tâm tự chế tạo vũ khí:
Nghiên cứu mẫu súng giặc: Sau trận phục kích thu được 17 khẩu súng trường Gras kiểu 1874 của Pháp, Cao Thắng tự tay tháo rời từng bộ phận, tỉ mỉ đo đạc, vẽ lại và nghiên cứu cơ chế hoạt động.
Huy động trí tuệ dân gian: Ông tập hợp các thợ rèn giỏi từ các làng nghề nổi tiếng như Trung Lương, Vân Chàng, thợ mộc Xa Lang về căn cứ mở xưởng quân giới. Nguyên liệu đúc súng được gom từ sắt vụn, nồi đồng, mâm đồng, cày cuốc hư hỏng do nhân dân khắp nơi quyên góp.
Thành tựu khiến kẻ thù khiêu khích: Bằng sự sáng tạo kiên trì, ông và thợ rèn đã đúc thành công hàng ngàn khẩu súng trường có kiểu dáng và cơ chế hoạt động giống hệt súng Pháp.
Chính các sĩ quan Pháp sau khi thu được súng do nghĩa quân đúc mang về Pháp nghiệm thu đã phải kinh ngạc thốt lên: "Các khẩu súng này giống về tất cả mọi phương diện so với những khẩu súng do các công binh xưởng của chúng ta sản xuất... đã bắn chết rất nhiều binh lính và sĩ quan người Âu".
Sự hy sinh lẫm liệt khi tuổi đời còn quá trẻ
Tháng 11 năm 1893, nhằm mở rộng vùng hoạt động ra Nghệ An, Cao Thắng trực tiếp chỉ huy nghĩa quân tiến công chuỗi đồn bốt của Pháp ở Thanh Chương. Trong trận tấn công đồn Nu (Thanh Chương, Nghệ An), ông dũng cảm dẫn quân xông lên thì không may trúng đạn hiểm.
Mặc dù được quân sĩ dốc sức cứu chữa nhưng do vết thương quá nặng, Tướng quân Cao Thắng đã trút hơi thở cuối cùng trên đường rút quân. Khi đó, ông mới vừa tròn 29 tuổi.
Nghe tin Cao Thắng hy sinh, chủ tướng Phan Đình Phùng đau đớn gào lên: "Trời hại tôi rồi, ông Cao Thắng ơi!" và tự tay viết bài văn tế khóc người phó tướng tài ba:
"Thiên tài toán học chước Võ Hầu, chế súng đạn biết bao chừng cơ trí..."
Sự ra đi của Cao Thắng khi mới 29 tuổi là một tổn thất không gì bù đắp được đối với nghĩa quân Hương Khê. Tuy nhiên, tài năng sáng tạo, chí khí quật cường và kỳ tích đúc súng của người "kỹ sư áo vải" Cao Thắng đã trở thành tượng đài bất tử trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.



