TUYÊN CHI VIỆN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN GIAI ĐOẠN 1970 - 1971: CUỘC CHIÊN PHÁ THÉP CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG BINH SƯ ĐOÀN 470
Ký ức phá bom nổ chậm, mở đường chi viện của người chiến sĩ công binh thuộc Sư đoàn 470 tại các trọng điểm đánh phá ác liệt trên cung đường Trường Sơn qua Nam Lào, bảo đảm cho các đoàn xe vận tải thông suốt hướng về mặt trận phía Nam.
Vào những năm 1970 - 1971, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, nhu cầu chi viện vũ khí, lương thực cho các chiến dịch lớn tại miền Nam tăng lên gấp bội. Để cắt đứt tuyến đường huyết mạch Trường Sơn, không quân Mỹ triển khai chiến dịch đánh phá chưa từng có, tập trung vào các "trọng điểm" giao thông, các đoạn đèo độc đạo và bến phà vượt sông qua khu vực Nam Lào. Địch rải thảm bom tọa độ, bom nổ chậm, bom từ trường liên tục 24/24 giờ, biến các cung đường xanh thành những dải đất cháy, không một bóng cây ngọn cỏ nào sống sót.
Để đối đầu với chiến thuật hủy diệt này, lực lượng Công binh Trường Sơn, tiêu biểu là các phân đội thuộc Sư đoàn 470, đã bước vào trận tuyến với khẩu hiệu "Máu có thể đổ, nhưng đường không thể tắc". Họ bám trụ ngay tại các tọa độ lửa, làm nhiệm vụ rà phá bom mìn, san lấp hố bom và mở đường vòng ngụy trang dưới tán rừng để bảo vệ an toàn cho các đoàn xe chở hàng tiến vào tiền tuyến. Ông Nguyễn Tiến Đạt chính là một chiến sĩ cảm tử trong đội ngũ phá bom năm ấy.
Lối tác chiến của người chiến sĩ công binh không có tiếng súng tiến công dồn dập, nhưng ranh giới giữa sự sống và cái chết lại vô cùng mong manh, tính bằng từng tích tắc. Khi máy bay địch vừa rút đi, mặt đường còn sực mùi thuốc súng, ông Đạt cùng tổ cảm tử phải lập tức lao ra trận địa. Nhiệm vụ nguy hiểm nhất là phát hiện và vô hiệu hóa các loại bom nổ chậm hoặc bom từ trường nằm ẩn sâu dưới lớp đất đá, sẵn sàng phát nổ khi có chấn động của xe tải đi qua.
Bà Nguyễn Tiến Đạt nhớ như in một đêm mưa rừng năm 1970 tại trọng điểm phà Xê-băng-hiêng. Địch vừa thả một loạt bom từ trường ngụy trang tinh vi hòng khóa chặt bến phà. Đoàn xe vận tải chở đạn đang ùn ứ phía sau, nếu không phá bom kịp trước khi trời sáng, toàn bộ đội hình sẽ bị máy bay địch phát hiện và tiêu diệt.
Không một chút do dự, ông Đạt xung phong ôm khối bộc phá áp sát vị trí quả bom từ trường nằm sát mép nước. Bằng kinh nghiệm và sự khéo léo, ông dùng đôi tay trần gạt nhẹ từng lớp bùn đất, đấu nối dây kíp nổ vào khối bộc phá, rồi nhanh chóng lùi lại hầm trú ẩn kích nổ. Tiếng nổ lớn vang lên hất tung quả bom giặc, giải phóng mặt đường. Ngay sau đó, ông lại cùng đồng đội vác cuốc xẻng lao ra san lấp hố bom dưới làn mưa đạn pháo bắn từ xa của địch, kịp thời mở đường cho đoàn xe vượt sông an toàn trước lúc bình minh.
Chi công thầm lặng của những chiến sĩ công binh như ông Nguyễn Tiến Đạt đã giữ vững cho mạch máu Trường Sơn luôn thông suốt trong những thời kỳ cam go nhất của cuộc chiến. Họ chính là những người lót đường bằng mồ hôi và máu để những đoàn xe "gan vàng dạ ngọc" chở mùa xuân ra tiền tuyến, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Chiến tranh lùi xa, ông Đạt trở về đời thường với những vết thương do mảnh bom để lại và sống một cuộc đời giản dị tại quê hương. Chiếc xẻng bộ binh và những ký ức rực lửa thời thanh xuân trên đại ngàn Trường Sơn luôn là niềm tự hào lớn lao, nhắc nhở thế hệ mai sau về giá trị của sự hy sinh thầm lặng vì độc lập của Tổ quốc.


