Bài viết

TUYẾN ĐƯỜNG KỲ CÔNG, KỲ TÍCH, KỲ QUAN

Ninh Bình20/05/2026Vũ Thị Huyền (xã Gia Viễn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mở đường



Vào cuối mùa khô 1964 - 1965, chiến trường miền Nam thiếu vũ khí, lương thực…nghiêm trọng do tuyến đường duy nhất vượt cửa khẩu từ Khe Ve qua đèo Mụ Gịa sang đất bạn Lào nối vào Đường 128 qua Seng Phan như “túi nước”, không thể vận chuyển được. Để giải quyết tình trạng này, đáp ứng yêu cầu vận chuyển lớn trên Đường Trường Sơn, Bộ Tư lệnh 559 được Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ mở đường 20.


Sau thời gian ngắn khảo sát, đúng 17 giờ ngày 21 tháng 01 năm 1966 (mùng 01 tết Bính Ngọ 1966), Bộ Tư lệnh 559 ra lệnh nổ loạt bộc phá, mở đầu cho chiến dịch “Chọc thủng Trường Sơn, mở đường thắng lợi”. Đường 20 bắt đầu được mở từ Phong Nha (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, nay thuộc tỉnh Quảng Trị) qua U Bò, Cà Roòng, Ta Lê nối sang đường 128 ở Lùm Bùm (huyện Bua la Pha, tỉnh Khăm Muộn, Lào). Con đường này dài khoảng 125 km do Công trường 20 và Công trường 128 thi công từ hai đầu vào. Hơn 8.000 bộ đội, thanh niên xung phong (TNXP) và các lực lượng khác rải trên toàn tuyến, lao động quên mình chủ yếu bằng thủ công để mở đường.


Sau gần 3 tháng thi công, hai cánh quân gặp nhau ở khu vực biên giới Việt-Lào, tuyến Đường 20 đã thông, vào khoảng giữa tháng 4 năm 1966 những chuyến hàng đầu tiên của Tiểu đoàn xe 781 Binh trạm 14 chạy xuyên đêm vào Binh trạm 32, từ đây mở ra thời kỳ vận chuyển cơ giới lớn, đáp ứng yêu cầu phục vụ chiến trường miền Nam đánh to, thắng lớn. Đường 20 được giao cho Binh trạm 14 đảm nhận từ km 0 đến km 82 (Ta Lê), từ Ta Lê đến Lùm Bùm do Binh trạm 32 đảm nhận.


Để giữ vững huyết mạch giao thông, đảm bảo vận chuyển sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc; tại khu vực trọng điểm A-T-P (cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu la nhích), Binh trạm 14 đã phối hợp với các đơn vị công binh của Bộ Tư lệnh 559 mở thêm các tuyến đường tránh 20B, 20C, 20D, 20K, 20E, QZ25, tạo thành “trận đồ bát quái” xuyên núi rừng, che mắt địch



Giữ đường



Đường 20 sau khi thông, trở thành tuyến vận chuyển lớn, cũng là trục ngang địch đánh phá khốc liệt nhất trong hệ thống 5 trục ngang và 21 trục dọc đường Trường Sơn.
Bến phà Xuân Sơn – nơi được coi là “ tọa độ lửa” của Đường 20 đã chứng kiến các chiến sỹ công binh C 16 cầu phà với lòng dũng cảm vô song, bất chấp bom đạn nối đôi bờ sông Son. Tiêu biểu là tấm gương của Tiểu đội trưởng Võ Thế Chơn lái ca nô phá trên 100 quả bom từ trường, giải phóng gần 300 xe qua phà trong một đêm, anh được Bác Hồ gửi tặng huy hiệu của Người.


Trạ Ang “ Tam giác lửa” km 12 - 14, nơi được ví như “cổ họng” Đường 20 trở thành quyết chiến điểm, gần 90 ngày đêm từ tháng 7 đến tháng 9/1968 máy bay đánh phá bằng mọi thủ đoạn, bên trong thiếu xăng nghiêm trọng. Thực hiện chỉ đạo của đồng chí Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Bộ Tư lệnh 559, Binh trạm 14 đã tổ chức kết bè xăng ngược sông Son vận chuyển về Tổng kho A km 7. Tại Trạ Ang, Tiểu đoàn 335 công binh và C211 Đội 23TNXP vần từng phuy xăng ngược suối Trạ Ang, trong một tuần chuyển được 30 phuy xăng đã có 29 chiến sỹ hy sinh. Cũng tại trọng điểm này ngày 14/11/1972 đã diễn ra sự kiện bi hùng về sự hy sinh anh dũng của 8 TNXP quê Thanh Hóa và 5 chiến sỹ pháo cao xạ tại hang Tám cô khi máy bay Mỹ ném bom làm sập cửa hang hy sinh.


Trọng điểm liên hoàn A-T-P “ xa mạc lửa ”kéo dài từ km 76 đến km 84 đã chứng kiến sự đánh phá hủy diệt của máy bay địch. Đặc biệt sau khi ngừng ném bom miền Bắc (01-11-1968), không quân Mỹ tập trung nhiều loại máy bay và thủ đoạn hòng cắt đứt đường 20 tại khu vực cửa khẩu. Song cũng tại trọng điểm này các chiến sỹ công binh Tiểu đoàn 33, C5 TNXP đã chiến đấu ròng rã 7 năm trời (1966-1973), viết nên bản anh hùng ca bất diệt, với những tấm gương sáng ngời như: Vũ Tiến Đề lái máy gạt CT100; Nguyễn Thị Vân Liệu, nữ chiến sỹ TNXP phá bom nổ chậm; Kim Ngọc Quản, Khúc Văn Lượng lái xe v.v… được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Trên tuyến đường 20 Quyết Thắng, mỗi đoạn đường đều mang vết thương do bom đạn Mỹ gây nên, mỗi cây số đường đều thấm máu, mồ hôi, nước mắt của các chiến sỹ: Lái xe, công binh, TNXP, pháo cao xạ, lính kho, giao liên, dân công hỏa tuyến …


Tháng 3 năm 1973, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến thăm đường 20, tại trọng điểm A - T – P, trên đèo Phu La Nhích lộng gió, còn nguyên màu đất đỏ do bom đạn Mỹ cày xới, Đại tướng nói: “ Đây là một kỳ công - kỳ tích - kỳ quan, do ý chí độc lập, tự do của chiến sĩ và thanh niên xung phong làm nên”…riêng với Trung đội nữ B3, Đại tướng khen: “Ở nơi kẻ địch đánh phá khốc liệt như thế này chỉ có ý chí thép mới trụ lại được”, rồi Đại tường đặt tên “Trung đội nữ công binh thép”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn