Bài viết

TUYẾN LỬA

Cuối mùa khô măn 1971 Tiểu đoàn 6 thuộc đoàn 559 bội đội Trường Sơn chúng tôi nhận nhiệm vụ bảo vệ trọng điểm C-0, đèo Long B Nam sông Bạc phía Tây Trường Sơn (tỉnh Salavan Lào) để xe tăng, các loại pháo, xe ô tô chở súng, bộ đội, lương thực, thực phẩm,… từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam. Đèo Long B nằm bên phải đồi Mâm Sôi ngang K’Lưng rồi rẽ vào Đắc Chưng (Xê Kông) do binh trạm 35 quản lý. Vào những ngày đầu tháng 3 trời nắng nóng, chỉ cần một cơn gió Lào thổi mạnh cũng làm cho ch

Lào Cai03/12/2025Nguyễn Thị Hằng (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trung đội tôi có ba khẩu đội, mỗi khẩu đội phụ trách một pháo cao xạ 37mm và giữ chốt trên đỉnh đồi gần một khe suốt nhỏ, để chuyển được ba khẩu pháo đến trận địa nhiều đoạn đường phải dùng dây kéo, dùng sức người đưa pháo lên. Chúng tôi phát quang những cây to cao xung quanh trận địa pháo để không che tầm bắn, đào hầm sâu 2m, rộng 24m hạ pháo xuống, vít những ngọn cây nhỏ sát mặt đất và trồng thêm cỏ vào chỗ đất trống để ngụy trang. Trên bom pháo chúng tôi dùng ống tre (nứa) dài nửa mét xếp thành hàng, đổ nước vào ống rồi chặt cành cây tươi cắm xuống ống để địch không phát hiện. Giữa khẩu pháo là hầm chữ A, cửa hầm được làm bằng một tấm đan dày 1m xếp bởi nhiều lượt cây nhỏ và có hai cây trống hai bên để tránh bom bắn vào.

Các loại bom cháy, bom bi, bom khoan, bom phá,… của địch rạch ngang bầu trời, đổ hàng nghìn tấn bom xuống cánh rừng Trường Sơn với mục đích duy nhất là ngăn chặn cho được hoạt động vận chuyển con đường từ Bắc vào Nam. Suốt mấy ngày trời anh em chúng tôi phải tranh chấp với máy bay Mỹ từng phút, từng giờ, từng bữa cơm, từng giấc ngủ. Nhiều lần vừa vào hầm ngủ có tiếng máy bay ù…ù rít mạnh anh em lại ra làm nhiệm vụ, cứ chạy ra chạy vào cái hang nhỏ gọn chỉ đủ ba người nằm, mỗi đêm chỉ được ngủ hai đến ba tiếng đồng hồ, có những đêm thức trắng chiến sĩ nào người cũng gầy rộc, mắt thâm cuầng. Sau trận đánh anh em mệt bơ phờ chân tay rụng rời, bụng nóng ran vì phải ăn đồ khô. Anh em gọi tôi:

- Hùng ơi! Bữa nào cũng đồ khô, đồ hộp, củ và quả chuối sào muối chán lắm rồi, ông đi đánh mẻ cá về nấu chua cho bụng dạ tươi tươi chút nào.

Tôi cười bảo:

- Còn đang trực chiến, nhỡ ra suối kiếm cá trúng bom hi sinh ngoài đó thì uổng lắm để sáng sớm ngày mai nhé.

Tôi được anh em mệnh danh là “rái cá” vì quê tôi ở đầu dòng sông chảy (Hoàng Liên Sơn), một lần thu hoạch là cả yến cá. Cá đánh về còn giãy đành đạch anh em ai nấy đều hào hứng, chờ Hà ở hậu cứ gánh cơm ra cho đơn vị rồi giao cá cho Hà anh nuôi phụ trách hậu cần, nấu món cá với canh chua là đỉnh nhất một đặc sản của vùng quê Phú Thọ. Chỉ nghĩ đến mùi thơm của cá tươi hòa quyện với vị chua của lá rau rừng đã thấy no bụng rồi. Từ sáng đến giờ không gian im ắng quá chỉ nghe thấy tiếng chim hót líu lo trên cành cây già nua, cao vài chục mét dây leo chăng chằng chịt. Những chùm phong lan mọc ở thân cây, cành cây đang đua nhau nở với nhiều màu sắc khác nhau. Mấy chú ong rừng cố lách vào các đóa lan hé nở tranh nhau hút mật. Đến 6 giờ chiều anh nuôi Hà đã mang cơm tới. Hương vị của cá bay xa hàng chục mét vẫn ngửi thấy. Thắng em út của đơn vị vẫy tay gọi to các anh em:

- Các anh ơi! Cơm cá đến rồi.

Nó chạy ra nhấc bổng gánh cơm trên vai Hà lên rồi nhẹ nhàng đặt xuống cái chõng tre sợ nồi canh trào ra ngoài, cả khẩu đội anh em vây quanh nồi canh cá trồm trồ khen:

- Ôi ngon quá.

Anh nuôi Hà đang thở hổn hể. Tôi đưa cho cậu ấy cái khăn nói:

- Chú lau mồ hôi trên mặt đi gánh cơm mấy kilômét chắc mệt lắm, ngồi xuống ăn cùng các anh em đi.

Quay lưng lại phía sau, Duy người lính khuôn mặt trẻ măng tuổi 18 dựa lưng vào gốc cây buồn bã thở dài. Tôi lại gần hỏi:

- Cậu nhìn kìa anh em đang vui thế kia. Sao cậu ngồi đây ủ rũ vậy. Chắc lại nhớ nhà rồi sao ?

Duy rơm rớm nước mắt trả lời:

- Mùi vị này giống món cá nấu chua mẹ thường nấu cho em ăn lúc nhỏ anh ạ.

Tôi động viên em ấy:

- Thôi vào ăn đi coi như hôm nay em được về nhà với mẹ. Ăn xong anh em ta lại chiến đấu tiếp với lũ giặc.

Bữa cơm tối ngon nhất suốt mấy tháng qua, anh em ai nấy đều tràn đầy niềm vui vừa ăn vừa kể chuyện quê nhà. Bữa cơm bắt đầu được 10 phút khẩu đội nhận được điện máy bay AC-130 dẫn theo đàn con F-4, F-150, B52,… bay về hướng chúng tôi. Cả khẩu đội để bát đũa xuống vào vị trí chiến đấu. Duy tay chỉnh khẩu pháo miệng ca thán:

- Mẹ chúng nó nữa cả ngày không đánh, tối rồi còn đánh mà còn đánh đúng vào lúc anh em ăn bữa cơm ngon nhất “trời đánh tránh bữa ăn”. Phen này phải cho chúng mày “rụng như sung” mới được.

Tôi cười nhắc Duy:

- Thôi chú ý vào làm nhiệm vụ đi kẻo trúng bom bây giờ.

Giờ phút quan trọng này chúng tôi không thể nóng vội làm theo cảm tính mà kiên trì làm theo phương án đề ra. Đó là đơn vị đã chủ động kết hợp chặt chẽ ba phương thức: đánh địch, nghi binh và phòng tránh. Đối phó với thủ đoạn đánh phá của địch, đơn vị chủ động ngụy trang, làm trận địa giả, nghi binh và bố trí hệ thống đài quan sát kết hợp với khí tài điện tử và bằng mắt thường trên các điểm cao, báo động nhanh, chính xác. Qua quan sát, chiến đấu đơn vị rút ra quy luật: Máy bay trinh sát chiến thuật vào ban đêm của địch bay theo hướng cố định; khi chụp ảnh mục tiêu liên tục có các tia “lóe sáng”. Chớp thời cơ các lần “lóe sáng” của máy bay địch để quân ta nổ súng đồng loạt đánh địch. Khi địch bổ nhào bắn đạn chỉ thị mục tiêu, ta bắn theo phương hướng đối đầu với đường bay bổ nhào của địch và phục kích đón lõng đường bay ra sau bổ nhào ném bom. Suốt ba tiếng đồng hồ phối hợp chiến đấu của các đơn vị, làm quân địch khiếp sợ phải rút chạy.

Trận đấu đã kết thức đêm nay anh enh được ngủ ngon giấc. Đến sáng sớm khi mặt trời chiếu tia nắng đầu tiên chúng đã bay đến thành bầy đàn. Pháo của chúng tôi đã chờ sẵn sàng chống trả. Các đơn vị tập chung hỏa lực hàng chục khẩu pháo bắn thành dàn lưới lửa như hàng nghìn tia chớp sáng trên bầu trời đánh vào máy bay địch. Từ mùa khô năm trước và đầu năm nay máy bay địch đã bắn cháy hư hỏng rất nhiều ô tô vận tải, thương vong về người, làm tổn thất nặng nề hàng hóa của ta. Máy bay AC-130 bay bằng, ở tầm cao, thiết bị máy móc hiện đại,khó bắn hạ. Nó là “bóng ma” lởn vởn trên dãy Trường Sơn, vì thế đoàn 559 Trường Sơn đã phát động thi đua “Toàn quân thi đua bắn rụng máy bay Mỹ”. Cuộc chiến trên không diễn ra liên tục dưới trời nắng gắt, mồ hôi ướt thẫm áo anh em như tắm nước. Dù thời tiết khắc nhiệt đến đâu là lính trinh sát tôi phải làm tốt nhiệm vụ của mình, quan sát chính xác đường bay của địch và báo cáo chỉ huy kịp thời nổ súng. Rình mãi một con AC-130 đã xuất hiện đang bay ở tầm thấp khi bị pháo 57mm và các loại pháo khác truy lùng, nó còn máu chiến lắm chuẩn bị bắn đạn 40mm tôi nhanh chóng báo cáo cấp trên.

- Báo cáo máy bay AC-130 vào hướng tây nam mục tiêu trên không ở tầm thấp 8,5km, cách mặt đất 6km, đánh vào đường đèo Long B, chuẩn bị bắn đạn 40mm hồng ngoại tuyến.

Nhận được báo cáo từ lính trinh sát chỉ huy lệnh toàn đơn vị tập trung hỏa lực nổ súng đồng loạt bắn “pằng…pằng pằng…” một loạt đạn kéo dài. Khoảng vài phút sau một con AC-130 bốc cháy ngùn ngụt trên bầu trời rực lửa. Cả đơn vị hô to:

- Máy bay Mĩ cháy rồi anh em ơi!

Cả trung đội anh em ôm nhau vui sướng hò reo, nhưng trên bầu trời vẫn còn nhiều con chim đang di cư đến nhiều hơn nhằm hướng chúng tôi mà bắn hòng trả thù. Anh em vẫn tiếp tục bắn làm cho chúng run sợ, hình như máy bay Mỹ đã phát hiện ra trận địa pháo của chúng tôi.

Anh Thanh đại đội phó hô lên:

- Các đồng chí ơi! Chúng đến gần chúng ta quá cẩn thận nhé.

Anh em vẫn bình tĩnh gan dạ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Hàng loạt bom, đạn xả xuống như mưa. Sau loạt đạn bắn dài vào máy bay địch anh em chạy xuống hầm trú ẩn. Tôi vừa bước vào cửa hầm chỉ huy cùng đại đội phó Thanh cách khẩu pháo 7m thì có tiếng nổ to “bùm,….,bùm,….” con F-4 thả bom rơi cạnh hầm chúng tôi, tôi và đồng chí đại đội phó bị bom đánh lộn xuống cuối hầm, hai đồng chí lính thông tin bên trong lộn lên trên hầm. Trong vòng quay ấy tôi cứ nghĩ là mình đã chết, mở mắt ra căn hầm tối đen như mực. Tôi vội gọi:

- Đại đội phó anh có làm sao không?

Anh chắc cũng bị thương nặng bò tới gần chỗ tôi, miệng thở phì phò trả lời:

- Tôi không sao đồng chí hãy mau tìm lối thoát ra ngoài.

Cũng may cho tôi bom rơi sát hầm không thì hôm nay tan xương nát thịt. Tôi lấy con dao găm trong túi ra rạch tăng hầm để thở. Anh em tôi dùng tay đào từng lớp cho đất rơi xuống dưới đáy hầm, rồi đẩy người dần lên. Sau 15 phút chúng tôi đã nhìn thấy ánh sáng, lúc này mới tin mình còn sống. Toàn thân chúng tôi bám đầy đất cát, mười đầu ngón tay trầy xước rỉ máu, nhìn lên bầu trời máy bay địch vẫn bay lượn, cây cối rạp xuống, đất cát bắn tung tóe. Miệng tôi bị va mạnh vào khe gỗ gãy hai chiếc răng cửa, môi sưng vêu, miệng đầy máu tươi đau lên đến tận óc nhưng miệng vẫn cố gọi to hai đồng chí cùng hầm:

- Vinh ơi! Cường ơi!

Cách tôi vài mét vẫn còn hơi khói của bom, cái đầu đen đen thò lên mặt đất mấp mô nói nhỏ:

- Các anh ơi! Em ở đây.

Tôi và đại đội phó định kéo Vinh lên thì Vinh bảo:

- Chân trái của em bị mắc vào hai khe gỗ ở cửa hầm, phải đào đất nhấc thanh gỗ ra mới lên được. Hai anh cứu Cường trước đi em vừa nghe đồng chí ấy kêu cứu đó.

Tôi và đại đội phó cùng nhanh tay bới đất 5 phút sau thì cứu được Cường. Chân cậu ấy bị mắc vào máy thông tin 2W kéo mãi không ra và ngoi lên được. Khi cứu được Vinh và Cường nhìn sang phía trước khẩu đội 1 cách tôi 10m khẩu pháo và căn hầm bị bom tấn đánh tụt xuống mặt đất võng như lòng chảo. Anh em từng người đang lóp ngóp bò dưới hố bom sâu 5m lên, máu từ trong tai chảy rớt xuống hai má dính đất nhờ nhờ như màu bã trầu. Ba đồng chí ở cửa hầm bên trái chúng tôi tìm mãi không thấy đâu, tôi gọi to:

- Anh em ở đâu mau mau trả lời.

Từ phía khe đồi có tiếng vọng về:

- Chúng tôi ở dưới này cứu chúng tôi với.

Tuy bị thương anh em vẫn cố chạy nhanh về hướng tiếng kêu cứu. Xuống đến nơi nhìn đồng đội mà đau quá, ba đồng chí ở phía hầm bên phải bắn lên không trung va đập vào các thân cây, vách đá cách cửa hầm hơn 100m lăn xuống khe đồi bị thương nặng, nằm bất tỉnh người mền ra đau đớn nhưng không một tiếng kêu la. Sinh bị nhẹ hơn máu chảy trên đầu bết thành mảng giọt xuống áo ướt thẫm nhưng vẫn nói được, luôn miệng hỏi:

- Các anh em có ai bị làm sao không đại đội phó.

Đại đội phó nhìn Sinh mắt thẫm lệ ra hiệu:

- Chú cứ yêu tâm anh em không ai làm sao cả mọi thứ đều ổn rồi.

Cùng lúc các đồng chí ở khẩu đội hai cũng xuống tới nơi thấy cả sáu còn nguyên vẹn chúng tôi rất vui.

Tôi hỏi khẩu đội trưởng:

- Bên đó thế nào đồng chí ?

Long khẩu đội trưởng trả lời:

- Sau khi máy bay F-4 thả quả bom thứ nhất vào khẩu đội 1 và hầm chỉ huy thì khẩu đội em dính quả bom thứ hai, pháo và cả khẩu đội em bị vùi. Chúng em cùng đào đất chui lên và chỉ bị thương nhẹ thôi.

Chúng tôi đặt các đồng đội vào võng chống gậy lê từng bước từ khe núi đưa các anh em lên sườn đồi. Sau khi được y tá sơ cứu chín anh em trong trung đội thay nhau khênh ba anh em bị thương vượt 6km đường rừng đến bệnh xá để cứu chữa, cũng may các anh em đều qua cơm nguy kịch. Sau khi bị thương tôi nằm điều trị năm ngày trong hầm toàn thân đau ê ẩm, chân tay mỏi nhừ. Ở trong căn hầm tối tôi cảm thấy ngột ngạt vô cùng, chỉ muốn mau khỏe ra ngoài chiến đấu cùng đồng đội. Trong bóng tối mờ mờ ấy hiện ra hình ảnh bố mẹ tôi đang làm ruộng giữa trưa nắng ngoài đồng, các em tôi đang cắp sách tới trường và luôn nhắc tới tôi khi cả nhà quây quần. Tôi nhớ cô em gái út người gầy gầy nho nhỏ ngày tôi lên đường nhập ngũ cứ ôm lấy chân tôi mà khóc. Tôi phải bế nhóc đi theo cả đoạn đường dỗ mãi cô bé với nín khóc trở về nhà.

Đã nửa năm nay tôi chưa nhận được thư nhà, tôi lê bước lên cửa hầm lấy giấy bút ra viết thư cho gia đình. “… tháng nào con cũng viết thư giử ra Bắc mà đã rất lâu rồi con chưa nhận được thư của bố mẹ và các em. Gia đình mình có khỏe và an toàn không ạ?... Đơn vị con vừa bắn rơi máy bay địch đấy bố mẹ ạ. Bọn chúng đã khiếp sợ bộ đội Trường Sơn chúng con rồi. Đơn vị con vừa được đề nghị phong tặng đơn vị anh hùng có công bắn rơi máy bay Mỹ, một loại máy bay mẹ vô cùng nguy hiểm có thiết bị phát hiện tia lửa điện khi ô tô hoạt động đi trên đường Trường Sơn. Còn con được đề nghị Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba đã lập chiến công trong chiến đấu. Con vẫn khỏe bố mẹ cứ yêu tâm,…” Viết đến đây nước mắt tôi cứ ứa ra, tôi phải quay đi chỗ khác không sợ làm ướt trang thư. Rồi trong đầu tôi lại bâng quơ nhớ đến cô bạn gái miền Bắc học cùng hồi cấp 2. Dáng người cô ấy nhỏ nhắn, nước da trắng, mái tóc dài thướt tha, cười rất duyên khi tôi lên đường nhập ngũ đã từng hứa viết thư cho tôi mà đến nay tôi chưa nhận được lá thư nào, làm tôi cứ trông ngóng hoài.

Những hình ảnh thời thơ ấu đang dần nhiện ra trước mắt tôi thì có thông báo “máy bay không kích của địch đang bay vào khu vực điều dưỡng đề nghị tất cả thương binh xuống hầm trú ẩn tránh thương vong” tôi nhanh chân di chuyển xuống hầm. Nằm cạnh tôi nhiều anh em bị thương miệng vẫn lẩm nhẩm trong giấc ngủ “B52 đến rồi anh em mau tránh đi”, “B52 đến...bắn”. Trước mặt tôi một anh chiến sĩ chạp 35 tuổi đang ngồi cầm tấm hình áp vào ngực. Tôi hỏi anh bị thương nằm ở đây lâu chưa. Anh ấy kể đơn vị hôm qua vừa trúng bom B-52 hi sinh gần hết, chỉ còn vài ba người sống sót. Qua giờ phút thoát khỏi cái chết anh ấy đang nhớ về gia đình mình. Nhớ đứa con thơ khi anh vào chiến trường nó mới tròn một tháng tuổi đã gần 10 năm nay anh chưa một lần gặp mặt con. Anh ước được một lần ôm con vào lòng, chắc giờ này con anh cũng học sắp hết cấp 1 rồi. Không biết nói gì tôi chỉ biết động viên anh cố gắng ngày chiến thắng sắp đến không còn lâu nữa, anh sẽ được đoàn tụ với gia đình. Phía ngoài cửa hầm những chiếc võng

chuyển anh em bị thương vào bệnh xá vẫn đều đều, người băng đầu, người nẹp chân,.. nhìn anh em mà xót lòng.

Thời gian dưỡng thương đã hết, sức khỏe tôi đã hồi phục. Tôi trở về đơn vị cũ, một số anh em bị thương nặng chuyển ra Bắc chữa trị. Về đơn vị anh em phấn khởi ôm chầm lấy tôi còn trêu :

- Trung đội ta còn trinh sát Hùng thì nhiều máy bay Mỹ phải rơi nữa anh em nhỉ. Mà Hùng cậu gãy hai răng cửa trông đẹp trai hơn đấy.

Tôi nheo mắt, miệng cười ngượng:

- Chờ đánh song giặc Mỹ mình sẽ làm lại hai cái răng mới còn duyên hơn cũ, mình lại đến thăm anh em.

Tôi hỏi anh em trong trung đội tình hình mấy ngày nay chúng đánh thế nào. Anh em kể lại mấy ngày gần đây chúng đánh ác liệt hơn, chúnghuy động đồng loạt các loại máy bay ném bom, mở nhiều đợt không kích, rải chất độc màu da cam và một số loại chất độc diệt cỏ khác xuống nhiều vùng rừng Trường Sơn để làm cháy trụi các cánh rừng. Các dự án tạo mưa và các chất hóa học tạo bùn cũng được chúng thực hiện cùng lúc gây ngập úng, sạt lở đường sá núi đồi gây ảnh hưởng không nhỏ đến con đường “tuyến lửa” Trường Sơn. Chúng sử dụng tăng thêm thiết bị hiện đại máy bay chiếu tia laser (ném bom bằng điều khiển) hòng tiêu diệt các trận địa pháo của chúng tôi và cầu phà nối liền con đường Nam - Bắc. Đơn vị của tôi được mệnh danh là “dũng sĩ diệt máy bay Mỹ”, con F-4 là sợ pháo cao xạ 37mm của chúng tôi nhất nên chúng đã làm mọi cách để tìm ra trận địa pháo của chúng tôi.

Anh em đang trò chuyện rôm rả nghe xa xa có tiếng ù,…ù,…trên bầu trời máy bay Mỹ lại đến, anh em tôi nhận lệnh vào vị trí chiến đấu. Tiếng đạn bắn, tiếng bom nổ ròn rã, các khẩu đội chỉ làm biết theo hiệu lệnh của chỉ huy.Chúng bắn từ sáng cho đến chiều tối không nghỉ một giờ nào, một bữa ăn chúng tôi phải chạy đi chạy lại ba, bốn lần mới song, có anh em nhịn đói cả ngày để chiến đấu với chúng. Thắng nhỏ tuổi nhất rất hăng hái chiến đấu để trả thù cho bố mẹ trúng bom B52 của Mỹ khi em ấy 12 tuổi. Thắng ở với ông nội đến năm 18 tuổi tình nguyện xin vào chiến trường. Nhìn khuân mặt non nớt của Thắng mà thấy thương, thời bom đạn chẳng biết thế nào. Bất chấp bom đạn anh em vẫn sống, vẫn chiến đấu nhằm thẳng quân thù mà bắn. Đang lúc trận chiến ác liệt diễn ra bỗng thình lình một quả bom phát quang của con F-4 rơi xuống khẩu đội 3 quả đồi bên kia, cách chúng tôi khoảng hơn 300m làm cháy trụi vài trăm mét rừng, chúng tôi còn chưa biết anh em bên đó thế nào thì … ôi… một quả bom tia laser to, dài bằng thân chuối nhọn hoắt đâm thẳng xuống chỗ đang cháy. Tiếng nổ ùm…,ùm,…dào dào kéo dài đất đá bắn tung lên hàng trăm mét, khói đen sì, lửa bốc cháy ngùn ngụt. Chúng tôi đứng lặng trong giây lát rồi chạy đến chỗ bom nổ. Ba đồng chí ở phía cửa hầm bên phải bị thương văng ra ngoài không xa tay đang ôm đầu đau nhức, máu chảy ròng ròng từ trong tai ra, tinh thần hoảng loạn, miệng ú ấ gọi tên ai đó. Tới chỗ cửa hầm bên trái chúng tôi không thể tin vào mắt mình nữa khẩu pháo bay ra chỗ khác, hầm của các anh em trúng bom lõm như hình cái phễu khổng lồ, mùi khói bom chen giữa mùi thịt cháy khét lẹt những giọt máu trộn lẫn màu đất đỏ, đậm như màu mận tía, máu văng ra khắp mọi nơi trên lớp đất lô nhô, dính trên thân cây cháy đen xì. Tôi ngồi khụy gối xuống cổ nghẹt thở môi mấy máy gọi tên các anh em.

- Ngô…, Phú…, Phê… ơi!

Nhìn cảnh tan thương ai cũng đau buồn chúng tôi nhặt, gom các mảnh vụn thân xác anh em gói chung vào mảnh áo mưa mang đi chôn xuống đất, kèm theo địa chỉ cá nhân để sau này dễ tìm và đưa anh em về. Hòa nước mắt chảy dài, mắm môi không phát ra tiếng khóc, cứ ôm khư khư mãi cái bọc màu xanh thân xác các anh không muốn rời xa. Tôi cần đôi bàn tay nó đang run run dính máu bảo:

- Em nhìn lên bầu trời kìa lũ giặc vẫn còn đó.

Nó thả nhẹ cái bọc áo mưa xuống cái hố sâu tầm 1m vẻ mặt đầy oán hận.

Chúng tôi bỏ mũ đứng nghiêm vĩnh biệt anh em lần cuối. Mới đây thôi chúng tôi còn cười cười nói, bẻ cho nhau từng miếng cơm nắm, từng củ sắn luộc,… mà bây giờ chúng tôi đã ở hai thế giới. Đại đội phó động viên anh em:

- Các đồng chí cố gắng lên thời gian thắng lợi sắp tới gần rồi, chúng ta phải chiến thắng quân địch không thì chỉ trong tích tắc thôi chúng ta phải nằm lại nơi đây với các đồng đội đó.

Các anh em trong khẩu đội nắm chặt tay hướng về phía trước hô to:

- Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ,…, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ.

Chiến tranh dù có đau thương mất mát, phải đổ máu suốt dọc đường Trường Sơn nhưng chúng tôi vẫn vững tay súng bảo vệ bầu trời xanh của đất nước. Tạm biệt các đồng đội những người anh hùng đã hi sinh xương máu của mình cho đất nước, các anh em cứ yếu tâm nằm đó chúng tôi sẽ thay các lấy lại nền hòa bình cho đất nước. “Vĩnh biệt các anh người đồng đội của tôi”, “Ngày chiến thắng tổ quốc sẽ đón các anh về quê mẹ”.

(Câu chuyện “Tuyến lửa” viết dựa trên lời kể của ông Nguyễn Văn Hùng CCB Tiểu đoàn 6 Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn