Ừ LÀO CAI ĐẾN QUÊ NHÀ – HÀNH TRÌNH MỘT ĐỜI CỐNG HIẾN
· Họ và tên: Đặng Thị Phay · Năm sinh: 1946 · Địa chỉ: Thôn Quang Trung, xã Nam Đông Hưng, tỉnh Hưng Yên (trước là xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) · Quá trình cống hiến: · 1964: Tham gia đội Công nhân Quốc phòng tại Lào Cai. · 1965: Chuyển về Bắc Thái (ATK), tham gia làm đường giao thông chiến lược · Sau đó về địa phương, công tác tại Hợp tác xã trong 20 năm, giữ các vị trí kế toán, kế hoạch. · Tham gia công tác Đảng: Chi ủy viên, Bí thư Chi bộ, Đảng ủy viên (khoảng 1985-1
Chiều nay, tôi đến thăm bà Đặng Thị Phay trong ngôi nhà nhỏ giản dị ở thôn Quang Trung. Bà ngồi bên hiên, ánh mắt hiền từ nhưng sâu thẳm, nhìn xa xăm về phía con đường làng. Khi tôi xin phép được nghe bà kể về cuộc đời mình, bà mỉm cười, giọng trầm ấm: “Chuyện của bà thì dài lắm, nhưng cốt lõi cũng chỉ là gắn bó với Đảng, với công việc thôi cháu ạ.”
Hồi ấy, bà còn rất trẻ. Nhiệt huyết tuổi thanh xuân cứ hừng hực trong tim. Năm 1964, bà chính thức bước vào con đường cống hiến.
“Ngày 20 tháng 9 năm 1964, bà đi công nhân Quốc phòng ở Lào Cai,” bà nhớ lại, giọng đầy tự hào.
Tuổi mười tám, bà rời quê hương Thái Bình, lên vùng đất biên cương Lào Cai xa xôi. Ở đó, bà cùng đồng đội thực hiện nhiệm vụ của những công nhân quốc phòng – công việc thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng cho tiền tuyến. Sau một năm, bà lại nhận lệnh chuyển công tác.
“Sau Lào Cai, bà được chuyển về Bắc Thái, làm việc ở khu ATK,” bà kể tiếp.
ATK – An toàn khu, nơi từng là căn cứ địa cách mạng. Ở đây, công việc của bà là “làm đường giao thông chiến lược”. Không phải những con đường làng nhỏ bé, mà là những tuyến đường huyết mạch phục vụ cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Tay cầm cuốc xẻng, vai gánh đất đá, bà cùng bao thanh niên trai tráng khác băng rừng, lội suối, san núi.
“Công việc vất vả lắm cháu ạ,” bà nói, đôi tay gầy gò nhưng chắc nịch nắm chặt tách trà. “Nhưng nghĩ đến những con đường mình làm ra sẽ phục vụ cho bộ đội hành quân, cho vận chuyển vũ khí lương thực ra mặt trận, trong lòng lại thấy ấm áp và có sức mạnh lạ thường. Không ai kêu mệt, không ai bỏ cuộc. Chúng bà sống với nhau như chị em ruột thịt, chia sẻ từng bát cơm, manh áo.”
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở chiến khu, bà được cử đi học để nâng cao trình độ. Học xong, bà trở về chính mảnh đất nơi mình sinh ra, tiếp tục cống hiến.
“Về rồi, bà bắt tay vào công tác Hợp tác xã. Gắn bó với nó suốt hai mươi năm trời,” bà kể.
Hai mươi năm – một quãng đời dài. Trong Hợp tác xã, bà đảm nhiệm nhiều vị trí, từ kế toán đến kế hoạch. Những con số, những bản kế hoạch sản xuất, những cân đo phân phối lương thực... tất cả đều được bà tính toán cẩn thận, tỉ mỉ. Bà cùng bà con xã viên chung tay xây dựng cuộc sống mới sau chiến tranh, từng bước khắc phục khó khăn.
“Công việc cũng nhiều áp lực lắm,” bà thở dài. “Nhưng thấy bà con trong xã được no ấm hơn, hợp tác xã ngày càng phát triển, trong lòng bà lại vui. Cứ nghĩ, mình đã góp một phần nhỏ bé vào công cuộc xây dựng quê hương.”
Song hành với công việc chuyên môn, bà luôn là một đảng viên gương mẫu, trung kiên. Lý tưởng của Đảng là ngọn đuốc dẫn đường cho mọi hành động của bà.
Bà lần lượt đảm nhiệm các trọng trách: từ Chi ủy viên, rồi được tín nhiệm bầu làm Bí thư Chi bộ. Đến những năm 1985-1987, bà là Đảng ủy viên của địa phương. Trong mỗi cương vị, bà luôn nỗ lực hết mình, lắng nghe ý kiến nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
“Được đứng trong hàng ngũ của Đảng là niềm vinh dự lớn lao nhất của đời bà,” bà nói, ánh mắt rạng ngời. “Gần 60 năm tuổi Đảng rồi... thời gian trôi nhanh quá.”
Nhìn lại chặng đường đã qua, bà có quyền tự hào về những đóng góp của mình. Một trong những kỷ vật quý giá nhất của bà là tấm Huân chương Kháng chiến chống Pháp – minh chứng cho những năm tháng cống hiến thầm lặng nhưng đầy ý nghĩa.
Hiện nay, dù tuổi đã cao, sức đã yếu, bà vẫn không ngừng nghỉ. Bà tích cực tham gia sinh hoạt tại Hội Cựu Thanh niên Xung phong Trung ương của xã Nam Đông Hưng, cùng các cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong khác tiếp tục đóng góp sức lực, kinh nghiệm cho cộng đồng.”Bây giờ thì nghỉ ngơi rồi,” bà cười hiền. “Nhưng tinh thần phục vụ, tinh thần xung phong thì vẫn còn mãi. Bà chỉ mong sao thế hệ các cháu, các chắt của bà sẽ giữ được lòng nhiệt huyết, ý chí cống hiến cho quê hương, đất nước như thế hệ chúng bà ngày trước.”
Tôi ra về khi hoàng hôn buông xuống. Hình ảnh bà Đặng Thị Phay – người phụ nữ nhỏ bé với đôi mắt sáng và nụ cười hiền hậu – in đậm trong tâm trí tôi. Cuộc đời bà, tựa như một cuốn biên niên sử sống, đã kể cho tôi nghe về một thế hệ vàng, sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc, và tiếp tục cống hiến không mệt mỏi cho công cuộc xây dựng quê hương khi hòa bình lập lại. Tấm gương của bà, về lòng trung thành với lý tưởng, về sự tận tụy với công việc và tình yêu thương đồng chí, đồng bào, mãi mãi là bài học quý giá cho thế hệ trẻ chúng tôi noi theo.



