UNG VĂN KHIÊM – NGƯỜI CHIẾN SĨ KIÊN TRUNG VÀ NHÀ NGOẠI GIAO LỖI LẠC
Ung Văn Khiêm sinh ngày 13/2/1910 tại làng Tấn Đức, xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, ông sớm chứng kiến cảnh nhân dân chịu ách áp bức của thực dân Pháp. Khi còn là học sinh Trường Trung học Cần Thơ, ông đã tham gia các hoạt động đấu tranh của học sinh, bãi khóa phản đối chính quyền thực dân. Năm 1927, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và sau đó được tham dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức tại Quảng Châu. Đây là bước ngoặt quan trọng đưa người thanh niên Nam Bộ đến với con đường cách mạng. (Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu)
Năm 1929, Ung Văn Khiêm tham gia thành lập An Nam Cộng sản Đảng và được giao phụ trách công tác xây dựng tổ chức ở khu vực Hậu Giang. Năm 1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong những năm hoạt động bí mật, ông tích cực gây dựng cơ sở cách mạng, tuyên truyền, vận động quần chúng và xây dựng những tổ chức cách mạng đầu tiên ở Nam Bộ. Năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tù, đày ra Côn Đảo. Sau khi được trả tự do, ông tiếp tục hoạt động cách mạng và trở thành một trong những cán bộ có nhiều đóng góp cho phong trào cách mạng ở Nam Kỳ. (Báo An Giang)
Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Ung Văn Khiêm giữ nhiều trọng trách quan trọng. Ông tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở Sài Gòn, sau đó giữ cương vị Bí thư Xứ ủy Nam Bộ và hoạt động tại nhiều chiến khu, từ Đồng Tháp Mười, U Minh đến các căn cứ ở Nam Bộ và Việt Bắc. Trong những năm kháng chiến, ông vừa trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, vừa góp phần xây dựng chính quyền và củng cố lực lượng kháng chiến ở miền Nam. (Báo An Giang)
Sau năm 1954, Ung Văn Khiêm được giao trọng trách trong lĩnh vực đối ngoại. Ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương và từ tháng 2/1961 đến tháng 4/1963 là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Trên cương vị này, ông góp phần đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, tăng cường đoàn kết giữa ba nước Đông Dương và mở rộng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa cùng các quốc gia dân tộc chủ nghĩa. Ông cũng đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ ngoại giao, đặt nền móng cho công tác đào tạo chuyên môn, ngoại ngữ và nghiệp vụ đối ngoại của Việt Nam. (Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu)
Sau thời gian công tác tại Bộ Ngoại giao, ông tiếp tục đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ và nhiều trọng trách khác của Đảng, Nhà nước; đồng thời là đại biểu Quốc hội các khóa I, II và III. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Ung Văn Khiêm được đồng chí, đồng bào nhớ đến bởi sự kiên trung, giản dị, thẳng thắn và giàu lòng nhân ái. Ông qua đời ngày 20/3/1991, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong công cuộc đấu tranh và xây dựng đất nước. Ông được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. (Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu)
Cuộc đời Ung Văn Khiêm là câu chuyện về một người thanh niên sớm chọn con đường phụng sự Tổ quốc và kiên trì đi trọn con đường ấy qua những năm tháng gian lao nhất. Từ một học sinh yêu nước ở Nam Bộ đến người lãnh đạo cách mạng và nhà ngoại giao của đất nước, ông luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Tấm gương của ông nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng lịch sử, nuôi dưỡng lý tưởng, sống có trách nhiệm và không ngừng học tập để góp phần xây dựng quê hương, đất nước.



