Ứng xử khôn khéo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc
Ứng xử khôn khéo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc
Với kinh nghiệm hoạt động quốc tế nhiều năm, với uy tín quốc tế, tài trí ngoại giao và sự hiểu biết sâu sắc các nước anh em, nhằm mục tiêu tăng cường vững chắc quan hệ Việt – Xô – Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Chính phủ ta tiến hành hàng loạt những hoạt động ngoại giao có trọng điểm, đặt vào trọng tâm đối ngoại: Giữ quan hệ cân bằng với cả Liên Xô và Trung Quốc – điều kiện tiên quyết để củng cố quan hệ với hai nước anh em. Đây là yêu cầu quan trọng, nhiệm vụ cấp thiết, đồng thời cũng là thử thách to lớn trong điều kiện các quan hệ quốc tế vào thời điểm đó chồng chéo, đan xen nhau trong quan hệ của các siêu cường, không dễ phân định tách bạch và vượt qua được quả không hề dễ dàng. Nhưng bằng tài trí, sự khéo léo trong ứng xử ngoại giao, Hồ Chí Minh đã giữ vững mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp đối với Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh lịch sử phức tạp, nhạy cảm này.
Để giữ gìn quan hệ cân bằng, đoàn kết, hữu nghị với cả Liên Xô và Trung Quốc, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta chủ trương ứng phó nhanh nhạy, mềm dẻo với mọi biến chuyển của tình hình, đạt tới sự tế nhị và cân bằng. Các chuyến thăm những năm 1956 – 1960 do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu khá liên tục và đồng đều với cả Liên Xô, Trung Quốc: Năm 1956, thăm chính thức Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ; năm 1957, thăm 9 nước, trong đó có Liên Xô, Trung Quốc; trong hai năm 1959 – 1960, hai lần thăm Trung Quốc và Liên Xô. Trong hai năm 1965 và 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Trung Quốc hai lần, thì Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N. Kosygin cũng được Việt Nam đón tiếp trọng thị và thân thiết (2/1965), đồng thời hai đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước ta cũng được cử đi thăm Liên Xô (4/1965, 3/1966). Tuân thủ phương châm “chưa hiểu thì chưa nên bầy tỏ thái độ” của Hồ Chí Minh, suốt thời kỳ mâu thuẫn Xô – Trung diễn ra gay gắt, trên các phương tiện chính thống, Đảng và Nhà nước ta đã không bàn luận, không bày tỏ thái độ đồng tình hay phản đối cuộc đấu tranh nội bộ trong Đảng Cộng sản Liên Xô (1956), hay đối với Cách mạng văn hóa của Trung Quốc, cũng như không tham gia các cuộc tranh luận công khai giữa hai bên, tránh gây ra những hiểu lầm không cần thiết. Đặc biệt trong những năm 1960-1964, khi Trung Quốc thường xuyên nêu vấn đề “chống chủ nghĩa xét lại”, “tách khỏi Liên Xô”, còn Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô liên tiếp gửi thông điệp (13 bức thư và thông báo) đề cập đến bất đồng Xô – Trung, đề nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam phải thay đổi lập trường với Trung Quốc, thì Hồ Chí Minh vẫn luôn mềm mỏng và kiên định giải thích: “Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, luôn luôn tăng cường đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các nước anh em khác”(3). Đồng thời, khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trao đổi và thông báo về các vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam với lãnh đạo Liên Xô, thì cũng đồng thời thông báo, trao đổi với lãnh đạo Trung Quốc. Năm 1965, Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta hoan nghênh ý kiến của Liên Xô đề nghị lập Mặt trận thống nhất và lập cầu hàng không để giúp đỡ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, nhưng khi Trung Quốc không đồng ý, thì ta tạm thời gác vấn đề này lại, đồng thời công khai cải chính những tin tức nói Trung Quốc cản trở hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam quá cảnh qua Trung Quốc.
Những mâu thuẫn, xích mích giữa hai nước Liên Xô và Trung Quốc đã gây ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng chung của thế giới cũng như cách mạng Việt Nam. Ngày 02/11/1960, đại biểu của 81 Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế đã họp tại Mátxcơva. Tại cuộc họp này, cả Liên Xô và Trung Quốc không tìm được tiếng nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những ứng xử khéo léo, với uy tín cao, kết hợp giải thích, thuyết phục và tìm cách hòa giải vấn đề này. Trong bài phát biểu trước hội nghị Người nhấn mạnh: “Trong sự đoàn kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa các đảng Mác – Lênin trên thế giới, sự đoàn kết giữa Liên Xô và Trung Quốc, giữa Đảng cộng sản Liên Xô và Đảng cộng sản Trung Quốc có một tầm quan trọng đặc biệt. Chúng tôi cảm thấy rất sâu sắc tầm quan trọng của sự đoàn kết giữa Liên Xô và Trung Quốc.. .Chung ta đều là anh em ruột thịt trong đại gia đình cộng sản quốc tế. Để đánh thắng kẻ thù chung chúng ta nhất định phải đoàn kết chặt chẽ”(4). Nhờ đó, cuối cùng Người đã đưa hai đoàn Liên Xô, Trung Quốc đi tới đồng thuận và Tuyên bố chung của Hội nghị 81 đảng được thông qua. Không những vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khéo léo tỏ rõ lập trường quan điểm của mình. Từ năm 1966, ở Trung Quốc diễn ra Cách mạng văn hóa, Người thực hiện chủ trương “cách mạng văn hóa là vấn đề nội bộ Trung Quốc”. Không tỏ thái độ ủng hộ hay phản đối, nhưng khi được Chủ tịch Mao Trạch Đông gợi ý thực hiện cách mạng văn hóa ở Việt Nam, Người đã nhã nhặn, khéo léo từ chối: “Việt Nam trước mắt không thể làm đại cách mạng văn hoá, chúng tôi còn làm đại cách mạng võ hoá đã”. Mao Chủ tịch tán thành: “Đúng vậy, Việt Nam không thể làm đại cách mạng văn hoá được”(5).
Có thể nói trong mối quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa cương và nhu, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết, nắm bắt thời điểm để xử lý thành công quan hệ Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc.



