Cựu chiến binh

Ước mơ của người lính được ngã xuống đất mẹ

“Đằng nào cũng là chiến đấu, tôi vẫn muốn được về Bắc. Chết thì cũng muốn chết trên đất mình.” Khi ấy, Phó Tư lệnh đã nghiêm giọng nhắc nhở: “Đánh ở đâu cũng là chiến đấu, đều vì Tổ quốc.” Ông Tỏn hiểu điều đó, nhưng trong những đêm mắc võng dưới hầm, giữa rừng sâu đất bạn, nỗi nhớ quê hương vẫn thường trực, đến cả trong giấc mơ.

Lào Cai14/12/2025Nguyễn Trần Mai Anh (xã Dương Quỳ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 6 năm 1974, ông Ma Văn Tỏn đóng quân tại Bắc Thái – một địa bàn hậu phương chiến lược của miền Bắc trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tại đây, ông cùng đơn vị nhận lệnh cơ động gấp, rời hậu phương, hướng thẳng vào chiến trường phía Nam.

Từ Bắc Thái, đoàn quân hành quân qua Vinh, vượt dải đất Bắc Trung Bộ, rồi theo tuyến hành lang chiến lược Trường Sơn, băng qua những cánh rừng rậm và dãy núi hiểm trở trên đất bạn Lào. Mỗi bước tiến là một bước rời xa vùng an toàn, tiến gần hơn đến chiến trường ác liệt. Con đường hướng về Tây Nguyên, về Buôn Ma Thuột, không chỉ đo bằng quãng đường, mà được tính bằng mồ hôi, máu và sự căng thẳng thường trực của người lính.

Đó là những ngày hành quân trong rừng sâu, nơi bom mìn và bom bi còn sót lại rải khắp các lối mòn. Có đoạn đường, cả đội hình phải dừng lại để dò gỡ từng quả bom chưa nổ. Người đi trước cẩn trọng mở lối, người phía sau nối bước trong im lặng, chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể phải trả giá bằng sinh mạng. Trên đầu, tiếng máy bay trinh sát gầm rú từng đợt; dưới tán rừng rậm, tiếng côn trùng rả rích hòa vào nhịp bước nặng nề của đoàn quân đang tiến sâu vào vùng lửa đạn.

Năm 1975, sau ngày đất nước thống nhất, đơn vị của ông Ma Văn Tỏn tiến vào tiếp quản căn cứ Đồng Dù (Củ Chi). Ông được biên chế tại Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48, tiếp tục ở lại chiến trường làm nhiệm vụ bảo vệ địa bàn, truy quét các toán tàn quân Khmer Đỏ quấy phá, giữ gìn an ninh cho nhân dân vùng mới giải phóng.

Sau một đợt hành quân dài ngày, ông Tỏn được điều trở về đơn vị và nhận nhiệm vụ xạ thủ chính khẩu súng phòng không 12,7mm. Đây là loại hỏa lực nặng, giữ vai trò then chốt trong đội hình chiến đấu, vừa bảo vệ bộ binh, vừa chi viện khi cần thiết. Từ thời điểm đó, ông gắn chặt với vị trí hỏa lực, trực tiếp đối mặt với những trận đánh khốc liệt, nơi ranh giới giữa sống và chết luôn hiện hữu trong từng loạt đạn.

Năm 1977, ông chính thức được tăng cường sang chiến trường Campuchia với nhiệm vụ lính hỏa lực. Điều kiện sinh hoạt vô cùng thiếu thốn: có những thời điểm, 3–4 ngày đơn vị mới nhận được một phong lương khô. Do đóng quân sát khu vực biên giới, nhiều chuyến máy bay thả tiếp tế không xác định chính xác vị trí, hàng hóa rơi lệch khỏi khu vực trú quân, phần lớn bị lực lượng Khmer Đỏ cướp mất.

Nhớ lại quãng thời gian ấy, ông Tỏn kể, nụ cười vẫn hiện trên gương mặt nhưng giọng nói không giấu được sự xót xa: “Có chuyến họ thả lệch, mình không được ăn gì. Đến khi bên chỉ huy quay lại thì thực phẩm đã bị nhặt hết rồi.” Phải đến những đợt thả tiếp tế sau, máy bay điều chỉnh lại vị trí, đơn vị mới nhận được lương thực.

Có thời điểm, ông và đồng đội phải nhịn đói liên tục suốt bảy ngày, nhưng vẫn bám trụ trận địa, toàn lực đánh đuổi quân Khmer Đỏ. Trên những chặng truy kích kéo dài hơn 24 km, khi sức đã cạn, bộ đội vừa đánh vừa cơ động, từng bước đẩy lùi lực lượng Khmer Đỏ áp sát khu vực biên giới Thái Lan, buộc đối phương phải rút sâu và khiến phía bên kia biên giới tăng cường cảnh giới.

Trong lúc chiến sự căng thẳng, một chiến sĩ trẻ của đại đội do chưa nắm vững toàn bộ phạm vi chiến hào và cách triển khai hỏa lực đã đặt nòng súng chưa đúng hướng, khiến đạn bắn vượt mục tiêu. Ông Tỏn lập tức lao tới, kéo đồng đội ra khỏi vị trí nguy hiểm và trực tiếp đảm nhiệm hỏa lực. Ngay sau đó, khi vừa xoay người chuẩn bị thu hồi, ông bất ngờ bị đánh úp, suýt mất mạng. “Đánh nhau sướng lắm!” – ông bật cười khi kể lại, rồi kéo cổ áo, chỉ vào vết sẹo kéo dài phía sau tai, nơi một mảnh bom bi cùng mảnh pháo 105mm đã sượt qua vị trí hiểm yếu của người lính hỏa lực.

Nhờ hỏa lực chi viện kịp thời, đơn vị giữ vững được thế trận. Tuy nhiên, với vết thương khá nặng, ông Tỏn buộc phải rút về tuyến sau để băng bó, điều trị. Nhiệm vụ xạ thủ chính khẩu 12,7mm được bàn giao lại cho người đồng đội tên Thừa, còn ông được điều chuyển sang công việc khác, tiếp tục phục vụ trong đội hình chiến đấu của đơn vị.

Ít lâu sau, ông Ma Văn Tỏn được điều động về sư bộ. Qua quá trình công tác, nhận thấy ông là người gan dạ, kỷ luật, tác phong nhanh nhẹn và từng trải qua nhiều trận đánh ác liệt, chỉ huy sư bộ đã thống nhất điều ông về làm cảnh vệ, trực tiếp bảo vệ Sư trưởng và Phó Tư lệnh. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, đòi hỏi không chỉ bản lĩnh, sự trung thành tuyệt đối mà còn cả kinh nghiệm trận mạc của một người lính từng đi qua sinh tử.

Sau đó, đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi có lực lượng đến tiếp quản, ông và đồng đội mới được lệnh rút quân về Bắc. Thời điểm ấy, ngày 17/2/1979, chiến tranh biên giới phía Bắc bùng nổ. Nhắc lại khoảnh khắc ấy, ông Tỏn kể, vừa cười vừa nhớ lại lời mình từng nói với Phó Tư lệnh: “Đằng nào cũng là chiến đấu, tôi vẫn muốn được về Bắc. Chết thì cũng muốn chết trên đất mình.”

Câu nói tưởng như bông đùa ấy, theo ông, lại là khát khao chung của nhiều người lính đang làm nhiệm vụ xa Tổ quốc. Khi ấy, Phó Tư lệnh đã nghiêm giọng nhắc nhở: “Đánh ở đâu cũng là chiến đấu, đều vì Tổ quốc.” Ông Tỏn hiểu điều đó, nhưng trong những đêm mắc võng dưới hầm, giữa rừng sâu đất bạn, nỗi nhớ quê hương vẫn thường trực, đến cả trong giấc mơ.

Việc rút quân không diễn ra ngay. Phải đến cuối tháng, khi lực lượng thay thế hoàn tất tiếp quản, đơn vị ông mới được lệnh hành quân. Đoàn quân đi suốt từ 5 giờ chiều đến 8 giờ sáng hôm sau mới tới sân bay. Đường dài, hành quân gấp, nhưng ai cũng bước nhanh hơn thường lệ, bởi trong lòng đều chung một niềm mong mỏi: sắp được trở về quê hương.

Rời chiến trường Campuchia, đơn vị ông Tỏn di chuyển từ sân bay Phnom Penh về sân bay Hà Nội, sau đó dựng doanh trại tại Đại Từ, Đồng Ủy (Bắc Thái). Khi đặt chân trở lại miền Bắc, ông mới thực sự cảm nhận được sự bình an của người lính còn sống sót sau chiến tranh. Thế nhưng niềm vui chưa trọn vẹn, bởi tin những đồng đội đã hy sinh lần lượt được báo về. Đến hôm nay, mỗi khi ngồi lại với anh em, ký ức ấy vẫn khiến ông không khỏi nghẹn ngào, xót xa trước sự mất mát của một thế hệ.

Khi nhắc về những ngày tháng đã qua, ông Tỏn không chỉ kể về bom đạn mà còn nhớ đến những kỷ niệm hi hữu giữa đồng đội. Ông bật cười khi nói về một lần suýt gặp nạn vì hỏa lực ta. Khi ấy, ông Tỏn đảm nhiệm khẩu 12,7mm, còn ông Bằng – người cùng quê, cùng đơn vị – chỉ huy khẩu đội cối 60mm làm nhiệm vụ chi viện. Do địa hình chiến hào chỗ cao chỗ thấp, một số quả đạn bắn không vượt được tầm, rơi sát vị trí của ta. “May mà có mấy quả không nổ, chứ nổ thì tự mình bắn mình rồi,” ông kể. Phát hiện nguy hiểm, ông Tỏn lập tức liên lạc bằng máy vô tuyến, báo cho ông Bằng điều chỉnh phần tử bắn, tránh một tai nạn đáng tiếc.

Ngày 31/1/1981, ông Ma Văn Tỏn chính thức xuất ngũ. Trở về đời thường, ông chưa bao giờ đem những năm tháng chiến đấu của mình ra để kể công hay khoe thành tích. Ông chỉ lặng lẽ giữ lại vài tấm ảnh đen trắng chụp vội trong hầm trú ẩn thời trai trẻ. “Chụp một cái là xong, tấm ảnh bé bằng hai ngón tay, tôi cứ giữ trong túi áo ngực bên trái,” ông nói.

Với bà con lối xóm, ông chỉ là một người từng đi bộ đội, về già sống giản dị và hưởng chế độ cựu chiến binh theo quy định. Khi được chia sẻ câu chuyện đời lính trong khuôn khổ chương trình “Câu chuyện thời hoa lửa” do Tỉnh đoàn tổ chức, ông Tỏn và vợ không giấu được sự xúc động. Ông bảo, đó không chỉ là dịp để nhắc lại quá khứ, mà còn là cách để giữ gìn một phần lịch sử, một phần cuộc đời của những người lính đã đi qua chiến tranh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Ước mơ của người lính được ngã xuống đất mẹ | Câu chuyện thời hoa lửa