“Út Sóc” giữa tọa độ lửa – Câu chuyện về Anh hùng Trần Thị Lý
“Út Sóc” giữa tọa độ lửa – Câu chuyện về Anh hùng Trần Thị Lý
“Út Sóc” giữa tọa độ lửa – Câu chuyện về Anh hùng Trần Thị Lý
Trong chuyến hành trình về nguồn, khi nghe kể về những năm tháng ác liệt nơi tuyến lửa miền Trung, chúng tôi lặng đi trước hình ảnh một cô gái nhỏ bé nhưng gan góc phi thường – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Lý.
Chị sinh năm 1946, là con út trong một gia đình nghèo ở làng Phú Thượng Trong, xã Phú Hải, thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay thuộc tỉnh Quảng Trị). Tuổi thơ gắn với sông nước, những ngày lặn sông bắt cá, theo cha chở cát đã rèn cho chị sức bền và ý chí dẻo dai.
Khi quê hương chìm trong khói lửa, chị tình nguyện tham gia dân quân. Nhanh nhẹn, gan dạ, chị được giao làm liên lạc cho Đảng ủy và Xã đội Phú Hải, đồng thời là chiến sĩ của Cụm phòng không nam cầu Dài. Giữa bom rơi đạn nổ, cô gái nhỏ chạy thoăn thoắt từ trận địa này sang trận địa khác, chuyển mệnh lệnh kịp thời. Đồng đội gọi chị bằng cái tên thân thương: “Út Sóc”.
Ngày 7/2/1965, máy bay Mỹ ồ ạt ném bom Đồng Hới. Cầu Dài rung chuyển, đất đá mịt mù. Khi một đơn vị bên kia sông chưa nhận được lệnh, chị lập tức chèo thuyền vượt sông giữa làn bom đạn. Biết đồng đội sắp hết đạn, chị lại quay về kho, vác hòm đạn nặng hơn cả trọng lượng cơ thể, rồi chèo ngược dòng trong mưa bom để tiếp tế.
Ngày 4/4/1965, trận đánh dữ dội nhất diễn ra. Máy bay F4H, F105, AD6 quần thảo bầu trời. Cầu Dài trúng bom, hơn 60 người dân thiệt mạng. Nỗi căm thù bùng lên, toàn thị xã đồng loạt nổ súng.
Ở trận địa Phú Hải, chị Trần Thị Lý cầm khẩu CKC, căng mắt theo dõi máy bay địch. Một quả bom nổ sát bên, đất đá vùi lấp gần hết thân người chị. Khi được kéo lên, một tay chị vẫn kẹp chặt khẩu súng, tay kia bịt nòng để tránh cát lọt vào. Chưa kịp nghỉ, chị lại lao sang trận địa khác. Trong trận ấy, chị cùng đồng đội bắn rơi 3 máy bay Mỹ.
Sau loạt bom, phát hiện một hầm trú ẩn bị sập, chị lao vào đào bới, đôi tay rớm máu vẫn không ngừng cứu người. Năm người dân được kéo lên an toàn.
Không chỉ chiến đấu, chị còn trực tiếp chèo thuyền đưa đồng chí Bí thư Đảng ủy xã vượt sông giữa lúc máy bay địch bổ nhào. Dòng sông dậy sóng, bom nổ xung quanh, nhưng chị bình tĩnh đưa thuyền cập bến an toàn.
Với những chiến công ấy, ngày 1/1/1967, chị được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Sau đó, chị tham gia quân đội, được phong quân hàm Thiếu úy, rồi học tập, công tác tại nhiều đơn vị.
Không chỉ giỏi chiến đấu, chị còn là người đi đầu trong sản xuất. Trên cương vị Phó đội sản xuất muối cầu Dài, chị luôn nhắc mọi người: “Ngày nắng làm bù ngày mưa, khi yên tiếng súng phải gắng gấp đôi, gấp ba”. Nhờ tinh thần ấy, năng suất muối tăng vượt chỉ tiêu, góp phần bảo đảm hậu cần cho tiền tuyến.
Sau này, khi công tác tại Quân khu 5 và đảm nhiệm vai trò Giám đốc Khách sạn Bạch Đằng ở Đà Nẵng, chị tiếp tục phát huy bản lĩnh của người anh hùng, đưa đơn vị trở thành một trong những khách sạn tiêu biểu cả nước.
Trong cuộc đời mình, chị vinh dự ba lần được gặp Hồ Chí Minh. Những lời căn dặn của Bác về cách nói chuyện giản dị, súc tích, về cách ứng xử khi giao lưu quốc tế đã trở thành hành trang quý giá theo chị suốt đời.
Nghe câu chuyện về “Út Sóc” năm xưa, chúng tôi hiểu rằng: anh hùng không phải là điều gì xa vời. Anh hùng có thể là một cô gái nhỏ bé, tay lấm bùn muối, vai vác hòm đạn, chèo thuyền giữa bom rơi, nhưng trái tim thì lớn hơn cả khói lửa chiến tranh.
Tên chị – Trần Thị Lý – mãi là biểu tượng của lòng quả cảm, của tuổi trẻ sẵn sàng dâng hiến trọn vẹn cho Tổ quốc.


