Vá áo bên bếp lửa sàn
Mùa thu năm 1971, một phân đội hành quân đêm của quân giải phóng băng qua vùng rừng núi phía Tây Thừa Thiên thì gặp một trận mưa rừng xối xả. Cả đội người nào người nấy sũng nước, quần áo rách tơi tả vì gai mây cào xé. Để giữ bí mật và bảo toàn lực lượng, họ được lệnh rẽ vào trú chân tại một bản nhỏ của đồng bào người Pa Cô.
Nhà mế clơ (người mẹ già trong bản) nằm lọt thỏm bên lưng chừng đồi. Thấy bộ đội vào, mế không nói không rằng, lật đật nhóm ngay một bếp củi lớn giữa nhà sàn để anh em sưởi ấm. Khi những người lính trẻ vừa ngồi quây quần bên bếp lửa, mế chú ý đến Kiên – cậu chiến sĩ nhỏ tuổi nhất đoàn – đang ngượng ngùng lấy tay che một vạt áo dài rách toác bên sườn, để lộ cả làn da thâm tím vì sương lạnh.
Mế liền vào buồng trong, lấy ra một chiếc kim khâu bằng xương thú mài nhẵn và cuộn chỉ vỏ cây dẻo dai. Mế bắt Kiên cởi chiếc áo khoác ra, rồi dưới ánh lửa bập bùng, đôi bàn tay gầy guộc, chằng chịt vết chai sạn của mế bắt đầu thoăn thoắt vá áo. Mế vừa khâu vừa lẩm bẩm bằng tiếng dân tộc, đại ý bảo: "Bộ đội đi đánh giặc khổ nhiều rồi, cái áo rách cứ để mế lo, cái bụng phải ấm thì cái tay mới giữ chắc báng súng được".
Sáng hôm sau, khi sương mù còn chưa tan, phân đội lại bí mật lên đường. Kiên mặc chiếc áo lính đã được mế vá lại bằng những đường chỉ tuy thô xù nếp vải nhưng chắc chắn vô cùng. Miếng vá nơi mạn sườn ấy như mang theo hơi ấm bập bùng của bếp lửa sàn và tình mẫu tử thiêng liêng, nâng bước chân người lính trẻ đi qua những dặm dài chiến trận.
Thông điệp: Tình quân dân cá nước thời chiến được dệt nên từ những điều giản dị như thế. Sự chở che và tình yêu thương vô điều kiện của những người mẹ vĩ đại nơi đại ngàn chính là hậu phương vững chắc nhất của người lính.
Câu chuyện 3: Chiếc gậy tre gieo hạt
Năm 1972, chiến trường miền Trung bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, lệnh tổng động viên dân công hỏa tuyến nổ ra rầm rộ khắp các làng quê Bắc Bộ. Bà cụ ruột tên lính trinh sát tên Lam – thường gọi là u Năm – dù đã ngoài sáu mươi tuổi vẫn nhất quyết viết đơn bằng máu để xin gia nhập đoàn xe thồ, gánh gạo chi viện cho tiền tuyến.
Hành trang của u Năm ra trận vô cùng đơn giản: một đôi bồ gánh, chiếc nón lá rách và một chiếc gậy tre già lên nước bóng loáng. Chiếc gậy ấy vốn là thứ ông nhà dùng để đi chăn trâu ngày trước, nay u mang theo để đỡ đôi chân già nua vượt qua những đoạn dốc dựng đứng của dải Trường Sơn.
Trên chặng đường gánh hàng nặng trĩu kéo dài hàng trăm cây số dưới làn bom tọa độ, u Năm không bao giờ kêu ca nửa lời. Điều đặc biệt là đi đến đâu, u cũng dùng đầu nhọn của chiếc gậy tre khẽ chọc xuống những khoảng đất trống bên bìa rừng, rồi thả vào đó vài hạt đu đủ hoặc hạt mướp đắng mà u đã phơi khô mang theo từ quê. Anh em thanh niên xung phong thấy lạ liền hỏi: – "U ơi, bom đạn rơi suốt thế này, u gieo hạt liệu có kịp lớn không?"
U Năm quệt mồ hôi trên trán, cười móm mém: – "Bom giặc nổ chỗ này thì u gieo chỗ khác. Tụi bay đi qua không kịp ăn thì đoàn quân sau đi qua có cái mà hái bỏ vào nồi canh. Đất nước mình không để đất chết được đâu con."
Lời nói giản dị của người mẹ già khiến những trái tim mười chín, đôi mươi bừng sáng. Chiếc gậy tre của u Năm không chỉ đỡ bước chân bà mẹ anh hùng vượt qua mưa bom bão đạn, mà còn gieo mầm sống cho những mùa sau, minh chứng cho một tinh thần lạc quan và niềm tin sắt đá vào ngày toàn thắng của dân tộc.
Thông điệp: Sự phản kháng vĩ đại nhất trước sức mạnh hủy diệt của bom đạn chính là việc kiên cường nuôi dưỡng sự sống. Lòng yêu nước của người mẹ Việt Nam không nằm ở những điều cao siêu, mà hiển hiện ngay trong từng hạt mầm gieo xuống dọc đường hành quân.
Câu chuyện 4: Nét chữ dưới hầm chữ A
Mùa mưa năm 1970, những trận bão rừng đổ ập xuống vùng thung lũng Khe Sanh. Tiểu đội của Thắng nhận nhiệm vụ bám trụ trong một căn hầm chữ A nửa chìm nửa nổi ngay sát mép hàng rào kẽm gai của địch để làm nhiệm vụ quan sát, nắm tình hình di động của quân đối phương.
Không gian trong hầm chật chội, ẩm ướt và luôn nồng nặc mùi bùn đất. Giữa bốn bề vách đất sụt lún vì sức ép của pháo tầm xa, Thắng – vốn là một giáo viên làng trước khi viết đơn nhập ngũ – phát hiện ra cậu chiến sĩ liên lạc tên dân dã là cu Đen (người bản địa) hoàn toàn không biết chữ. Mỗi lần nhận mệnh lệnh bằng văn bản từ cấp trên gửi xuống, Đen đều phải nhờ người đọc hộ với ánh mắt đầy thèm muồng, ngưỡng mộ.
Tranh thủ những tiếng đồng hồ ngắt quãng giữa hai loạt pháo cầm canh của địch, Thắng gom những chiếc vỏ bao bao thuốc lá bằng giấy thô, dùng đầu chiếc bút bi gần hết mực bắt đầu mở "lớp học đặc biệt" ngay dưới lòng hầm. Bảng viết chính là khoảng vách đất mịn được gọt phẳng, phấn viết là những mẩu than củi đen nhánh lấy từ bếp hoàng cầm đã tắt.
Thắng kiên nhẫn cầm lấy bàn tay thô ráp, đầy vết chai của Đen, uốn nắn từng nét chữ: – "Đây là chữ A... Chữ A trong từ Anh em, từ Áo lính... Còn đây là chữ T trong chữ Tổ quốc..."
Tiếng bom nổ rầm rì trên đỉnh hầm làm đất cát rơi lả tả xuống mái đầu của hai người thầy trò, nhưng lớp học chưa bao giờ dừng lại. Cho đến một ngày, khi Đen tự tay viết được trọn vẹn ba chữ "VIỆT NAM ĐỘC LẬP" lên vách hầm bằng mẩu than củi, cả tiểu đội đã lặng người đi vì xúc động. Những nét chữ nguệch ngoạc ấy như thắp lên một thứ ánh sáng tri thức thiêng liêng, xua đi bóng tối ngột ngạt của cuộc chiến sinh tử.



