Bài viết

Vài hồi ức về Phan Bội Châu

Bùi Vũ Hoa Dung

Nghệ An12/08/2026phường An Dương (phường An Dương)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

L.T.S: Vương Đình Quang nguyên là thư ký tòa soạn báo "Tiếng Dân" do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ biên, vừa là thư ký riêng của nhà yêu nước Phan Bội Châu, chuyên giúp Phan Bội Châu hoàn chỉnh những văn bản tiếng Việt trong mười lăm năm cuối đời sống và sáng tác tại Huế. Bài này trích từ "Hồi ký về cụ Phan và cụ Huỳnh" do chính tác giả viết tại quê hương Nam Đàn Nghệ Tĩnh khi tác giả vừa tròn 80 tuổi (1987).

VƯƠNG ĐÌNH QUANG

Tết nguyên đán năm 1926 cụ Phan dậy sớm hơn mọi ngày và đánh thức tôi dậy luôn. Cụ bảo đưa bút giấy ra để chép "Bài thơ chúc Tết". Bằng cái giọng ồ ồ của xứ Nghệ cụ đọc:

Dậy! Dậy! Dậy!
Bên án một tiếng gà vừa gáy
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng
Xuân ơi! Xuân có biết cho chăng?
Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng
Hai mươi năm lẻ đã từng chua với chát
Trời bể may còn thân sống sót,
Tháng ngày khuây với bạn đầu xanh
Thưa các cô, các cậu, lại các anh


Đọc đến đây cụ dừng lại và giải thích: "Các cô các cậu còn nhỏ, chớ các anh đã lớn rồi. Tôi van lại (lạy) các anh phải tính làm sao đây..."

Hiểu ý cụ, tôi viết lạy chứ không viết lại như cụ đọc theo tiếng Nghệ chẳng hề phân biệt lại (giới từ) lạy động từ.

Rồi cụ đọc tiếp hết bài ca:

Trời đã mới, người càng nên mới mới
Giương mắt thấy rõ ràng tân vận hội
Ghé vai vào xốc vác cựu giang sơn
Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan,
Dây đoàn thể quyết ghe phen thành nghiệp mới
Ai hữu chí, từ đây xin gắng gỏi
Cởi lốt xưa mà tu dưỡng lấy tinh thần
Chẳng thèm chơi, chẳng thèm mặc, chẳng thèm ăn.
Đúc gan sắt để dời non lấp bể.
Xối máu nóng rửa vết dơ nô lệ!
Mới thế này là mới hỡi chư quân!
Chữ rằng: "Nhật nhật tân, hựu nhật tân
"

Chúng tôi ăn điểm tâm vừa xong thì một số đồng bào lân cận đến chúc thọ cụ Phan. Rồi nam nữ học sinh, hết đoàn này đến đoàn khác kéo đến mỗi lúc một đông. Trong nhà không đủ chỗ, phải đứng ngoài sân, ngoài vườn. Bà Đạm Phương, mẹ anh Hải Triều, hội trưởng Hội nữ công Huế cũng có mặt. Ông Võ Liêm Sơn, giáo sư trường Quốc Học đọc bài văn khẳng khái chúc tụng:

Phan tiên sinh là người hào kiệt
………………………

Đồng bào vẫn tiếp tục đến. Cụ Phan bảo đọc "bài ca chúc tết" cho mọi người nghe. Nhưng những người đứng quá xa vẫn nghe được. Trước một công chúng đông đúc đang vây quanh mình, cụ Phan vừa xúc động vừa phấn khởi, cao giọng diễn thuyết như một nhà hùng biện. Cụ ra sức kích động tinh thần yêu nước của đồng bào, nhấn mạnh cái nhục của người dân nô lệ, kêu gọi đoàn kết đấu tranh cho tự do độc lập. Tiếng nói của cụ mỗi lúc một trầm hùng. Tiếng than mất nước. Tiếng thét căm thù.

Phải nói đây là cái Tết vui nhất trong đời cụ Phan. Hồi đó cụ chưa già lắm. Mới khoảng sáu mươi, râu tóc chưa bạc. Nhuệ khí đang dồi dào. Dưới con mắt của nhân dân, nhà lãnh tụ phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX xuất hiện như một ngôi sao chói lọi.

III

Hồi cụ Phan mới được tha về Huế ở nhà Nguyễn Bá Trác, những người đầu tiên đến thăm cụ là bọn chúng tôi, thanh niên, học sinh, từ miền ngoài vào, từ miền trong ra.

Chúng tôi đến vì tò mò và khâm phục.

Ông già hiên ngang ấy với chòm râu quai nón, vừng trán cao, mặc bộ quần áo Tàu (cụ bị bắt ở Trung Quốc) bôn ba hải ngoại mưu đồ sự nghiệp giải phóng dân tộc, không may bị giặc bắt đưa về giam lỏng, ông già ấy, chúng tôi sùng bái như một vĩ nhân.

Chúng tôi được cụ Phan tiếp rất niềm nở, thân mật như cha với con. Cụ hỏi từng người một: tên tuổi, quê quán, bố mẹ. Đặc biệt cụ để ý đến người Nghệ Tĩnh hơn.

IV

Cụ Phan được hầu hết các báo chí trong Nam ngoài Bắc gửi biếu. Đủ các loại. Đủ các màu sắc chính trị.

Về báo tiếng Việt, tôi có nhiệm vụ chọn lọc những bài quan trọng đọc cho cụ nghe. Về báo chữ Pháp, tôi chỉ dịch đại khái một số bài liên quan đến thời cụ.

Tạp chí Nam Phong của Phạm Quỳnh đăng một bài xã luận đề nghị Chính phủ Pháp trao trả mọi quyền nội trị cho dân Việt Nam, trừ ngoại giao và quốc phòng. Cụ Phan đùng đùng nổi giận. Cụ nói: "Hai cái quan trọng nhất mà giữ lại thì còn gì? Chết! chết!".

Dạo ấy báo Argus (Minh Trí) của Clémenti xuất bản ở Hà Nội đăng một loạt bài nói về vụ tai tiếng giữa D'elloy với hoàng hậu vợ góa Khải Định. Cụ Phan thở dài, lẩm bẩm: "nhục ôi là nhục!" và bảo tôi đừng đọc những chuyện ấy nữa.

Báo Humanité (Nhân Đạo) cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp cũng gửi biếu. Tờ báo này luôn luôn tỏ thái độ bênh vực các dân tộc thuộc địa và thỉnh thoảng có bài ủng hộ "nhà cách mạng Phan Bội Châu".

Tờ báo được cụ Phan ưa thích nhất là tờ Cloche fêlée (Chuông rè) của luật sư Phan Văn Trường xuất bản ở Sài Gòn. Trong nước ta hồi đó chỉ có tờ báo này dám công nhiên chống chế độ thực dân Pháp. Nó đả kích mạnh những chủ trương chính sách vô nhân đạo của bọn thống trị.

Tờ báo này mở một cuộc lạc quyên kêu gọi đồng bào Nam bộ kẻ nhiều người ít giúp đỡ nhà chí sĩ Phan Bội Châu trong tuổi già. Kết quả số tiền thu được tổng cộng trên 2.000 đồng Đông Dương. Từ số tiền ấy: những bạn bè của cụ trích ra một khoản để mua một khoản vườn trên dốc Bến Ngự và dựng lên một ngôi nhà tranh để ổn định nơi ăn chốn ở cho cụ.

VI

Sogny - Chánh mật thám Trung Kỳ, một con cáo già thực dân Pháp, nói thạo tiếng Việt.

Một hôm y đến thăm cụ Phan và biếu cụ 100 đồng. Y nói:

- Đây không phải là tiền của Chính phủ. Đây là tiền riêng của cá nhân tôi. Đây là lòng thành của tôi đối với cụ.

Cụ Phan từ chối:

- Về vật chất, đồng bào đã giúp cho tôi đầy đủ, không thiếu thốn gì. Ngài có lòng tốt, tôi xin cảm ơn. Tiền, tôi không nhận.

Nhưng Sogny cứ nài nỉ:

- Đồng bào của cụ đã góp tiền giúp cụ vì họ hâm mộ cụ thì tôi đây cũng thế. Xin cụ vui lòng nhận cho tấm lòng thành của tôi.

Cuối cùng, cụ Phan nhận và hứa sẽ sử dụng số tiền đó vào việc công ích.

Ít lâu sau, một hệ thống dụng cụ thể dục trang bị đầy đủ từ xà đơn đến thang đu, được bố trí trước sân.

Hàng ngày mấy em thiếu nhi được cụ Phan nuôi cho ăn học trong nhà cùng với những thanh thiếu niên trong xóm đến tập luyện. Vì thiếu bảo quản và sử dụng bừa bãi, chẳng bao lâu dụng cụ hư hỏng hết cái này đến cái khác cho tới khi chỉ còn lại một chiếc xà đơn. Trăm đồng bạc của Sogny quả là bạc toi.

VII

Cụ Phan rất thích văn học dân gian. Cụ thường ngâm:

Chồng chài, vợ lưới, con câu
Sông Ngô bể Sở gặp đâu là nhà
Nên ra tay kiếm, tay cờ
Chẳng nên thì chớ, chẳng nhờ tay ai
.

và tỏ vẻ đắc ý với cái điệu phóng khoáng và tinh thần tự lực tự cường của câu ca.

Đối với bài "Thằng bờm có cái quạt mo" cụ bực tức lắm. Cụ giải thích như sau: ba bò chín trâu là nói về nông nghiệp. Một xâu cá mè là nói về thủy sản. Một bè gỗ lim là nói về lâm sản. Con chim đồi mồi tượng trưng cho nền văn hóa nghệ thuật. Phú cường như thế mà không biết, văn minh như thế mà không biết, chỉ biết miếng ăn bỏ vào mồm!

Hè năm 1926, Cụ Huỳnh Thúc Kháng từ Quảng Nam ra Huế để sắp xếp công việc Viện dân biểu. Cụ Ngô Đức Kế ở Hà Nội cũng vào chơi. Hai cụ cùng đến thăm cụ Phan. Trời oi bức, và cũng muốn được nói chuyện thoải mái, cụ Phan mời hai bạn đồng chí xuống đò ăn cơm và uống rượu trên sông Hương. Câu tâm sự giữa ba nhà chí sĩ trong một cuộc họp mặt hiếm có biết bao đậm đà. Cụ Phan ngâm và nêu lên một số đề tài để thảo luận:

Tích thù ta hãy còn lâu
Trồng tre nên gậy, gặp đâu đánh què.


Sự nghiệp cách mạng phải tiến hành về lâu về dài. Phải kiên trì, bền bỉ. "Dục tốc bất đạt". Trồng tre! Chăm bón cho tre tốt lên để dùng làm gậy mới chắc chắn. Có lực lượng rồi mới đón chờ thời cơ: gặp đâu đánh què. Cụ Phan nhấn mạnh ý nghĩa sâu sắc của câu ca. Cụ nói với giọng tin tưởng lạc quan: "Cụ Hoàng sắp ra tờ báo, phải lo việc trồng tre". Ý nói giáo dục đào tạo những con người làm cách mạng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn