Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Càng Long trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội giai đoạn 1980-1985 (1)
Giai đoạn 1980-1985 là một chặng đường lịch sử đầy thử thách đối với cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh chung đó, Đảng bộ và nhân dân huyện Càng Long phải đối mặt với những khó khăn đặc thù hết sức gay gắt. Bọn phản động trong nước không ngừng tìm cách phá hoại, một bộ phận cán bộ có biểu hiện thoái hóa, biến chất gây mất đoàn kết nội bộ. Tình hình càng thêm trầm trọng khi thiên tai liên tiếp xảy ra: ba năm liền (1978-1980) miền Bắc mất mùa, trong khi miền Nam đối mặt với hạn hán và lũ lụt, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lương thực trên cả nước. Nguồn nguyên vật liệu và nhiên liệu phục vụ sản xuất trở nên khan hiếm. Thêm vào đó, huyện còn gánh vác trách nhiệm cùng tỉnh Cửu Long thực hiện nghĩa vụ quốc tế, viện trợ trực tiếp cho tỉnh Kompongxapư (Campuchia) kết nghĩa.
Trước muôn vàn thử thách, báo cáo này nhằm mục tiêu đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc vai trò lãnh đạo của Huyện ủy Càng Long trong giai đoạn 1980-1985. Báo cáo sẽ làm rõ các chủ trương, quyết sách đã được đề ra; phân tích những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong quá trình chỉ đạo thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên quê hương Càng Long.
Phần I. Giai đoạn 1980-1982: Vượt qua thử thách, ổn định tình hình và xây dựng nền tảng ban đầu
1. Bối cảnh và Chủ trương Lãnh đạo của Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II
Trong bối cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, khi tàn dư chiến tranh còn hiện hữu và những mô hình kinh tế cũ bộc lộ sự trì trệ, khả năng xác định đúng đắn phương hướng của Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II (diễn ra từ ngày 22 đến 24 tháng 12 năm 1979) không chỉ là một nhiệm vụ chính trị, mà còn là thước đo bản lĩnh và tầm nhìn của Đảng bộ, quyết định sự tồn vong của thành quả cách mạng tại địa phương.
Trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình và rút kinh nghiệm từ nhiệm kỳ trước, Đại hội đã xác định các nhiệm vụ chung, bao gồm:
• Tập trung lãnh đạo, khắc phục triệt để tình trạng 17/108 "ấp trắng" (ấp chưa có đảng viên tại chỗ).
• Xây dựng Càng Long trở thành một trong những huyện trọng điểm lúa của tỉnh Cửu Long.
• Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư doanh.
• Xây dựng hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo các phong trào cách mạng của địa phương.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Huyện ủy gồm 33 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 11 đồng chí. Các chức danh lãnh đạo chủ chốt được phân công như sau:
• Bí thư Huyện ủy: Đồng chí Lê Văn Nha (Sáu Đại)
• Phó Bí thư Huyện ủy: Đồng chí Huỳnh Văn Khâm
• Phó Bí thư, Trưởng Công an huyện: Đồng chí Phạm Văn Đang
• Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện: Đồng chí Nguyễn Hữu Hoàng
Ngay sau Đại hội, với một Ban Chấp hành mới được kiện toàn, Đảng bộ huyện đã tập trung toàn bộ trí tuệ và nguồn lực để lãnh đạo nhân dân bắt tay vào việc hiện thực hóa các mục tiêu quan trọng mà Nghị quyết đã đề ra.
2. Công tác Xây dựng Hệ thống Chính trị
Nhận thức sâu sắc rằng xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh là nhiệm vụ then chốt, là nền tảng để triển khai hiệu quả mọi nhiệm vụ khác, Đảng bộ huyện đã dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác này.
Xây dựng Đảng Đảng bộ đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ". Một trong những dấu ấn nổi bật là việc thành lập "Ban 79 chống tiêu cực" theo tinh thần Nghị quyết 8 và Thông tri 222. Ban 79 đã phát động một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, thu hút trên 20.000 lượt nội bộ và quần chúng tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, thể hiện tinh thần dân chủ và quyết tâm làm trong sạch đội ngũ. Song song đó, cuộc vận động chỉnh đốn Đảng theo Chỉ thị 72-CT/TW của Bộ Chính trị được triển khai nghiêm túc, là lần đầu tiên kể từ ngày giải phóng huyện có một cuộc vận động toàn diện như vậy. Qua đó, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân được củng cố, cán bộ, đảng viên có sự chuyển biến tích cực trong tư tưởng và hành động.
Xây dựng Chính quyền Hiệu lực quản lý của bộ máy chính quyền đã được nâng lên một tầm mức mới, chuyển từ vai trò bị động sang chủ thể kiến tạo, trực tiếp tổ chức và điều hành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội then chốt. Chính quyền từ huyện đến xã đã thể hiện vai trò tích cực hơn trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa. Việc tổ chức thành công cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp theo đúng luật định đã góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Công tác Vận động Quần chúng Quan điểm "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng" được quán triệt sâu sắc. Các đoàn thể như Mặt trận, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ đã phát huy vai trò nòng cốt trong việc vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm. Đây là thời kỳ sức người được huy động ở mức cao nhất cho các mặt trận cải tạo quan hệ sản xuất, xây dựng các tập đoàn và tổ hợp tác, làm thủy lợi cải tạo ruộng đồng, và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả ở Campuchia.
Việc củng cố toàn diện hệ thống chính trị đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, là tiền đề vững chắc để Đảng bộ lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn, bước vào công cuộc phát triển kinh tế.
3. Lãnh đạo Phát triển Kinh tế - Xã hội và Văn hóa
Trong bối cảnh kinh tế cả nước gặp nhiều khó khăn, sự nhạy bén của Huyện ủy không chỉ nằm ở việc tiếp thu Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (Khóa IV), mà ở khả năng "giải mã" và địa phương hóa tinh thần chỉ đạo của Trung ương, biến những chủ trương chung thành các giải pháp cụ thể, phù hợp với thổ nhưỡng và tập quán canh tác của Càng Long, qua đó tháo gỡ từng nút thắt trong sản xuất.
Nông nghiệp và Thủy lợi Cây lúa được xác định là cây trồng chủ đạo. Huyện ủy đã chỉ đạo quyết liệt việc thiết lập quan hệ sản xuất mới thông qua các mô hình tổ đoàn kết sản xuất và tập đoàn sản xuất. Các biện pháp canh tác tiến bộ như cày ải, phơi đất, gieo sạ theo lịch thời vụ bắt đầu được áp dụng và mang lại hiệu quả. Bên cạnh cây lúa, các loại cây màu (khoai lang, bắp) và cây công nghiệp (dừa, lác, mía) cũng được chú trọng phát triển. Ngành chăn nuôi gia súc (trâu, bò, heo) tăng trưởng 8,4%, chủ yếu phục vụ sức kéo. Ngành thủy sản, dù không phải thế mạnh, cũng đạt sản lượng 82 tấn/năm. Đặc biệt, phong trào làm thủy lợi quần chúng diễn ra sôi nổi với các công trình tiêu biểu như "kênh Học Trò" và "kênh Ba Tươi" ở xã Bình Phú, huy động cả lực lượng giáo viên và học sinh tham gia, tạo ra khí thế cách mạng sâu rộng.
Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp và Thương nghiệp Các ngành nghề thủ công dựa trên nguồn nguyên liệu địa phương được khuyến khích phát triển và đưa vào làm ăn tập thể. Huyện đã thành lập các cơ sở quốc doanh như Xí nghiệp gỗ, Xí nghiệp cồn, Xí nghiệp dược và 67 tổ hợp tác sản xuất. Ngành thương nghiệp quốc doanh và hệ thống hợp tác xã mua bán ở các xã đóng vai trò chủ đạo trong việc phân phối hàng hóa thiết yếu theo tem phiếu. Một bước tiến quan trọng là sau năm 1981, huyện bắt đầu thực hiện cơ chế mở, từng bước xóa bỏ chế độ bao cấp qua giá, tạo sự chủ động hơn cho các đơn vị kinh doanh.
Giáo dục Phong trào giáo dục phát triển mạnh mẽ với nhiều điểm sáng. Tiêu biểu là phong trào hiến đất xây trường ở xã An Trường và vận động đóng góp xây trường ở xã Nhị Long. Hệ thống giáo dục phát triển song song cả phổ thông và bổ túc văn hóa. Đảng bộ đặc biệt quan tâm đến việc học tập trong đồng bào Khmer tại xã Phương Thạnh và mở lớp ngoại ngữ (tiếng Nga) để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ chủ chốt.
Y tế và Văn hóa Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển. Huyện đã thành lập các đội khám bệnh lưu động phục vụ vùng sâu, vùng xa và xây dựng một xí nghiệp dược phẩm. Mặc dù đời sống văn hóa tinh thần còn nhiều thiếu thốn, ngành văn hóa đã nỗ lực khắc phục bằng việc thành lập các đội văn nghệ quần chúng ở các xã, góp phần làm phong phú đời sống nhân dân và phục vụ công tác tuyên truyền.
Chính sách Xã hội, Dân tộc, Tôn giáo Đảng bộ đã tập trung giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách, vận động mở rộng ngành nghề truyền thống để tạo việc làm, qua đó giảm tỷ lệ hộ thiếu ăn trong lúc giáp hạt từ 50% xuống còn 30%. Chính sách dân tộc và tôn giáo được thực hiện tốt, tạo điều kiện cho đồng bào Khmer phát triển, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa, một nhân tố quan trọng cho sự ổn định và phát triển của huyện.
4. Lãnh đạo công tác Quốc phòng - An ninh
Song song với nhiệm vụ xây dựng kinh tế, công tác quốc phòng - an ninh luôn được xác định là nhiệm vụ chiến lược trong bối cảnh cuộc đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa còn diễn ra gay gắt, tình hình biên giới còn phức tạp.
• An ninh: Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được phát động rộng khắp. Lực lượng công an huyện, xã đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, đoàn thể, dựa vào nhân dân để giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tích cực phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội.
• Quốc phòng: Công tác tuyển quân thực hiện nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ quốc tế được tập trung chỉ đạo quyết liệt. Mặc dù gặp phải những khó khăn nhất định như một bộ phận thanh niên có tư tưởng do dự, trốn tránh, nhưng với các biện pháp vận động, tuyên truyền kiên trì, các địa phương đã nỗ lực hoàn thành chỉ tiêu được giao, góp phần bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế.
Phần II. Giai đoạn 1982-1985: Đẩy mạnh Cải tạo Xã hội chủ nghĩa và Phát triển theo tinh thần Đổi mới
1. Bối cảnh và Phương hướng, Nhiệm vụ của Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III
Bước vào giai đoạn 1982-1985, kinh tế - xã hội của huyện tuy có những bước phát triển ban đầu nhưng còn ở mức thấp, những khó khăn mới nảy sinh khiến đời sống nhân dân còn nhiều vất vả. Tình hình đó đòi hỏi Đảng bộ phải có những chủ trương, chính sách mạnh mẽ và đột phá hơn. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ III (vòng 2), diễn ra từ ngày 19 đến 20 tháng 5 năm 1982, đã xác định phương hướng nhiệm vụ trên tinh thần đó.
Đại hội đã quán triệt sâu sắc đường lối của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V và các nghị quyết của Trung ương, đặc biệt là tinh thần đổi mới của Chỉ thị 100-CT/TW về khoán sản phẩm trong nông nghiệp và Quyết định 25/CP, 26/CP về mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp. Các nhiệm vụ xuyên suốt của nhiệm kỳ được xác định là:
• Tập trung đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm, trong đó có vùng lúa cao sản.
• Tiếp tục đầu tư cho sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa.
• Phát động sâu rộng phong trào toàn dân tham gia công tác an ninh, quốc phòng.
• Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Quan điểm chỉ đạo cốt lõi của nhiệm kỳ được thể hiện rõ nét: "lấy năng suất, chất lượng và hiệu quả làm thước đo" để đánh giá cán bộ, và tinh thần vì dân được đồng chí Bí thư Huyện ủy Huỳnh Văn Khâm khẳng định: "Trong hoạt động nếu được trên cấp bằng khen mà dân không ủng hộ thì chúng ta không thành công".
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Huyện ủy gồm 38 ủy viên. Đồng chí Huỳnh Văn Khâm được bầu làm Bí thư Huyện ủy. Các đồng chí Nguyễn Thanh Phong giữ chức Phó Bí thư trực, Nguyễn Văn Nô là Phó Bí thư phụ trách kinh tế, và Nguyễn Công Chánh là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện. Sau Đại hội, toàn Đảng bộ đã bước vào tổ chức thực hiện nghị quyết với một khí thế và phương pháp làm việc mới, năng động và quyết liệt hơn.
2. Những Thành tựu Nổi bật trong Phát triển Kinh tế
Đây là giai đoạn chứng kiến những chuyển biến mạnh mẽ nhất về kinh tế, nhờ việc áp dụng các cơ chế quản lý mới, từng bước giải phóng sức sản xuất trong quần chúng, khơi dậy tiềm năng to lớn trong nhân dân.
Nông nghiệp và Cải tạo Ruộng đất Việc thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động đã tạo ra một luồng sinh khí mới. Các tập đoàn sản xuất và hợp tác xã nông nghiệp được củng cố, ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Kết quả là, so với giai đoạn 1980-1982, năng suất lúa bình quân tăng 25%. Đặc biệt, cuộc vận động điều chỉnh lại ruộng đất theo tinh thần "nhường cơm sẻ áo" đã đạt kết quả tích cực, với 1.102 hộ dư đất đã trang trải cho 1.458 hộ không đất và thiếu đất trên diện tích 659,1 ha, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, giải quyết mâu thuẫn cốt lõi về ruộng đất và củng cố liên minh công-nông trên một nền tảng mới.
Phong trào Thủy lợi Quần chúng Sôi nổi Phong trào làm thủy lợi đạt đến đỉnh cao với quy mô và khí thế chưa từng có. Nhiều công trình lớn được triển khai như kênh Chữ Thập (Nhị Long), Nông trường Thống Nhất, và đặc biệt là "Công trình vùng lúa cao sản 4.500ha" trên địa bàn 3 xã Mỹ Cẩm, An Trường, Tân An. Các số liệu rất ấn tượng: chỉ riêng trong năm 1985, tổng khối lượng đất đào đắp cho các công trình thủy lợi đã tăng gấp 6 lần so với năm 1984, thể hiện ý chí và sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân.
Công nghiệp, Xây dựng cơ bản và Giao thông Sản xuất công nghiệp từng bước ổn định và phát triển nhờ các chính sách mới như Quyết định 25/CP và 146-HĐBT. Hàng loạt xí nghiệp quốc doanh mới được thành lập như Xí nghiệp đường, nước đá, gạch, nhựa... Huyện ủy đã có chủ trương đúng đắn khi tập trung vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Điển hình là câu chuyện tự lực tự cường phát triển lưới điện của huyện, từ việc xin một máy phát điện 500kW cũ, đến việc chủ động kết nối với lưới điện quốc gia bằng phương thức trao đổi vật tư, đưa ánh sáng điện về các tuyến đường chính mà không còn phụ thuộc vào máy phát.
Thương nghiệp, Tài chính và Xuất khẩu Ngành thương nghiệp có bước tăng trưởng vượt bậc, đạt 69,01%/năm. Công tác thu mua, huy động lương thực, thực phẩm đạt kết quả cao, lượng heo hơi huy động năm 1985 tăng gấp 9 lần so với năm 1976. Tuy nhiên, trong quá trình này, biện pháp "đo bồ" để trưng mua lương thực đã gây ra sự không đồng thuận trong một bộ phận nông dân. Biện pháp này, dù gây ra phản ứng trái chiều, đã phản ánh một thực tế đầy cam go của thời kỳ quá độ: sự giằng co giữa mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia theo mô hình tập trung và nguyện vọng chính đáng của người nông dân. Đây chính là một trong những mâu thuẫn thực tiễn đã thúc đẩy Đảng bộ phải trăn trở tìm kiếm con đường đổi mới tư duy kinh tế. Huyện cũng đã có những bước đi đầu tiên trong hoạt động xuất khẩu (cơm dừa, hột vịt muối) và phát triển hệ thống tài chính-ngân hàng với việc thành lập các Hợp tác xã tín dụng ở cơ sở.
Những thành tựu quan trọng về kinh tế đã tạo ra nền tảng vật chất vững chắc hơn, cho phép Đảng bộ chăm lo tốt hơn cho đời sống văn hóa và các vấn đề xã hội của nhân dân.
3. Phát triển các lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
Đảng bộ huyện luôn xác định phát triển văn hóa-xã hội, chăm lo cho con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển chung.
• Giáo dục: Trước tình trạng nhiều giáo viên bỏ việc vì đời sống khó khăn, Huyện ủy đã phát động phong trào cải thiện đời sống giáo viên. Nhiều tấm gương quần chúng nhân dân cưu mang, nuôi dưỡng thầy cô giáo ở các xã khó khăn như Mỹ Cẩm, Đại Phước đã lan tỏa mạnh mẽ. Nhờ đó, đến năm 1985, số lượng giáo viên không những không giảm mà còn tăng 13%, số học sinh tăng 14% so với năm 1982.
• Y tế: Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố. Huyện đã xây dựng thêm trạm xá, phòng khám khu vực và thực hiện tốt 5 chương trình mục tiêu y tế quốc gia, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
• Văn hóa - Thông tin và Thể thao: Các hoạt động văn hóa trở nên đa dạng, phong phú hơn. Huyện thành lập Công ty chiếu bóng với các đội chiếu lưu động, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân. Với những thành tích xuất sắc, ngành văn hóa thông tin của huyện đã được Bộ Văn hóa Thông tin tặng cờ và bằng khen.
• Chính sách xã hội: Công tác chăm lo cho các gia đình thương binh, liệt sĩ và phong trào đền ơn đáp nghĩa tiếp tục được thực hiện tốt, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.
4. Tiếp tục Củng cố Hệ thống Chính trị, Quốc phòng - An ninh
Để bảo vệ thành quả cách mạng và tạo môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng, nhiệm vụ củng cố hệ thống chính trị và nền quốc phòng toàn dân vẫn luôn là ưu tiên hàng đầu.
Công tác Đảng Đảng bộ tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và trình độ học vấn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đến đầu năm 1985, toàn huyện có 1.218 đảng viên sinh hoạt tại 37 tổ chức cơ sở đảng. Nhiều đảng bộ xã như An Trường, Nhị Long, Huyền Hội, Bình Phú được công nhận là đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện.
Hoạt động của Chính quyền và Đoàn thể Chính quyền các cấp đã thể hiện tốt hơn vai trò cụ thể hóa đường lối của Đảng thành các kế hoạch và tổ chức nhân dân thực hiện. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận, do ảnh hưởng nặng nề của cơ chế "tập trung quan liêu bao cấp", hoạt động của chính quyền và các đoàn thể còn bộc lộ những hạn chế. Cơ chế này đã dẫn đến tình trạng mệnh lệnh, áp đặt, làm hạn chế quyền dân chủ và kìm hãm sự sáng tạo của quần chúng. Điều này khiến phong trào quần chúng có lúc chưa thực sự tự giác, vai trò của các đoàn thể bị suy giảm.
Quốc phòng - An ninh Lực lượng công an đã lập nhiều thành tích, nổi bật là cuộc đấu tranh làm tan rã tổ chức phản động "Cao Đài phục quốc", giữ vững an ninh chính trị. Công tác tuyển quân luôn đạt 100% chỉ tiêu trên giao. Nhiều tấm gương cán bộ, đảng viên tận tụy, sâu sát cơ sở đã góp phần quan trọng vào thành công của công tác quốc phòng địa phương.
Phần III. Đánh giá Chung và Những Bài học Kinh nghiệm
Giai đoạn 1980-1985 là một chặng đường lịch sử đầy thử thách nhưng cũng ghi dấu những nỗ lực phi thường và sự trưởng thành vượt bậc của Đảng bộ và nhân dân huyện Càng Long. Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, huyện nhà đã vượt qua muôn vàn khó khăn, đạt được những thành tựu quan trọng, tạo tiền đề cho bước phát triển mới trong thời kỳ Đổi mới.
1. Những thành tựu chủ yếu
1. Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội: Trong bối cảnh phức tạp, Đảng bộ đã lãnh đạo giữ vững an ninh, đập tan các âm mưu phá hoại, tạo môi trường hòa bình cho công cuộc xây dựng.
2. Xác lập quan hệ sản xuất mới và bước đầu đổi mới sản xuất: Hoàn thành cơ bản việc cải tạo nông nghiệp, xây dựng hệ thống tập đoàn sản xuất, hợp tác xã, đồng thời mạnh dạn áp dụng các cơ chế khoán mới và tiến bộ khoa học kỹ thuật.
3. Xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ban đầu: Đạt được những kết quả đột phá trong xây dựng thủy lợi, giao thông và đặc biệt là hệ thống điện, đáp ứng nhu cầu cấp thiết cho sản xuất và đời sống.
4. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện: Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm, các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa có sự phát triển rõ rệt, lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố.
5. Hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được củng cố và ngày càng trưởng thành: Năng lực lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền được nâng lên, đội ngũ cán bộ, đảng viên trưởng thành qua thực tiễn.
2. Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những thành tựu, quá trình lãnh đạo của Đảng bộ vẫn còn tồn tại những mặt yếu kém, hạn chế cần được nhìn nhận một cách thẳng thắn:
• Nền kinh tế vẫn còn mất cân đối, sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, chưa vững chắc.
• Mắc phải những sai lầm chủ quan, duy ý chí trong quá trình cải tạo nông nghiệp và công thương nghiệp; chất lượng hoạt động của nhiều tập đoàn sản xuất, hợp tác xã còn yếu kém, mang nặng tính hình thức.
• Cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là kết cấu hạ tầng, vẫn còn quá thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.
• Đời sống của một bộ phận nhân dân còn rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng nhất định đến lòng tin và khí thế cách mạng của quần chúng.
• Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, một cơ chế đã kìm hãm các động lực phát triển sản xuất và làm triệt tiêu sự năng động, sáng tạo của người lao động.
3. Những bài học kinh nghiệm quý báu
Từ thực tiễn lãnh đạo phong phú và sống động trong giai đoạn 1980-1985, có thể đúc kết những bài học kinh nghiệm sâu sắc sau:
• Một là, bài học xương máu đầu tiên chính là phải tuyệt đối trung thành với nguyên tắc "lý luận gắn liền với thực tiễn". Mọi chủ trương, dù đúng đắn đến đâu, sẽ trở thành giáo điều nếu không được "hơi thở của cuộc sống" tại cơ sở thẩm định và bổ sung. Thành công của khoán 100 và thất bại của một số hợp tác xã hình thức chính là minh chứng hùng hồn cho chân lý này.
• Hai là, bài học về việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, tin tưởng vào dân và dựa vào dân. Mọi thành tựu, từ việc làm thủy lợi, xây dựng trường học đến giữ gìn an ninh trật tự, đều bắt nguồn từ sức mạnh vô địch của nhân dân khi được Đảng khơi dậy và tổ chức.
• Ba là, bài học về sự cần thiết phải đổi mới tư duy kinh tế, nhận thức rõ những hạn chế của cơ chế bao cấp. Những khó khăn trong sản xuất và đời sống chính là thực tiễn thôi thúc Đảng bộ phải tìm tòi con đường mới, mạnh dạn tháo gỡ những rào cản của cơ chế cũ để giải phóng sức sản xuất.
• Bốn là, bài học về công tác xây dựng Đảng, xem đây là nhiệm vụ then chốt của mọi then chốt. Bài học này không phải là lý luận suông, mà được minh chứng sống động qua hiệu quả của "Ban 79 chống tiêu cực", một quyết sách cho thấy khi Đảng dám nhìn thẳng vào sự thật, dựa vào dân để tự chỉnh đốn, thì lòng tin của quần chúng sẽ được củng cố vững chắc nhất.
Kết luận
Giai đoạn 1980-1985 là một trang sử hào hùng trong lịch sử Đảng bộ huyện Càng Long. Dù phải đi qua chặng đường đầy gian nan, nhưng chính trong khó khăn, bản lĩnh, trí tuệ và sự trưởng thành của Đảng bộ đã được tôi luyện. Những thành tựu đạt được và cả những bài học kinh nghiệm rút ra trong giai đoạn này đã đặt những viên gạch nền móng vô cùng quan trọng, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của huyện Càng Long trong thời kỳ Đổi mới sau này.
Những nỗ lực, cống hiến và cả sự hy sinh của các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân trong toàn huyện giai đoạn 1980-1985 mãi là niềm tự hào, là nguồn động lực to lớn để thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm xây dựng quê hương Càng Long ngày càng giàu đẹp, văn minh.



