Vận dụng sáng tạo, linh hoạt các hình thức tác chiến trong thành phố

Cuối năm 1946, trước hành động khiêu khích và gây hấn quân sự của thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội, quân và dân Thủ đô chủ động tiến công nhiều vị trí của địch, nhằm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực và kìm chân quân Pháp ở Hà Nội.
Theo hiệu lệnh, 20 giờ ngày 19-12-1946, khi đèn điện toàn thành phố vụt tắt, pháo binh ta ở Pháo đài Láng bắn vào sở chỉ huy địch, chính thức mở đầu Toàn quốc kháng chiến ở Thủ đô Hà Nội.
Những ngày sau, bộ đội ta chủ động tiến công vào 30 vị trí đóng quân của địch. Những trận chiến đấu đó, quân ta vận dụng sáng tạo, linh hoạt các hình thức tác chiến. Trong tiến công, ta vận dụng hai hình thức tập kích và phục kích. Khi tập kích, ta thường tổ chức lực lượng quy mô tổ, tiểu đội, trung đội, bí mật áp sát từng vị trí quân địch, rồi bất ngờ đột kích, dùng súng bắn thẳng, ném lựu đạn diệt bộ binh, phá hủy hoặc đốt xe quân sự, xe tăng, sau đó nhanh chóng rút quân an toàn.
Thời gian mỗi trận đánh tập kích diễn ra khoảng 10 đến 20 phút, khiến quân địch ở các vị trí lân cận không kịp chi viện ứng cứu, hoặc bao vây truy kích ta. Với những trận phục kích, ta thường ém sẵn quân ở hai bên dãy phố nội thành, hoặc trên bờ đê sông Hồng (các đoạn Thanh Nhàn, Vĩnh Tuy, Trần Quang Khải) chờ địch tiến công, ta chống cự rồi giả vờ thua chạy để quân địch truy đuổi. Khi chúng sa vào trận địa mai phục, ta bất ngờ tiến công dồn dập, khiến chúng thiệt hại nặng.
Trong tác chiến phòng ngự, dựa vào hệ thống kiến trúc cổ ở nội thành, bộ đội ta tổ chức hai loại trận địa: Một là, sử dụng nhiều loại đồ vật đặt làm chướng ngại dọc theo từng trục đường phố, tạo thành các chiến lũy để ngăn chặn xe tăng, xe thiết giáp, cơ giới, bộ binh của địch; đồng thời bí mật bố trí các hố bắn, tuyến bắn ở hai bên dãy phố để diệt xe cơ giới, tiêu diệt bộ binh địch.
Hai là, ta tổ chức trung đội, thậm chí có nơi là đại đội ở những vị trí trên nhà cao tầng để phát huy hiệu quả hỏa lực tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Sau đó, ta để lại một tổ đánh ngăn chặn, nghi binh địch, rồi bí mật rút phần lớn lực lượng ra ngoài tiếp tục chiến đấu.
Trong các trận tổ chức phòng ngự điển hình ở Ô Chợ Dừa, Ngã Tư Sở, phố Đội Cấn, Vĩnh Tuy, Nhật Tân, lúc đầu ta gặp khó khăn do địch tiến công hướng chính diện kết hợp với vu hồi, nhưng quân ta nhanh chóng phát hiện kịp thời và chủ động sử dụng cách đánh vu hồi khiến địch bị bất ngờ, không kịp trở tay.
Sau 60 ngày đêm quyết tử, quân và dân Hà Nội đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 2.000 tên địch, phá hủy 22 xe tăng, 31 xe quân sự, bắn rơi, bắn hỏng 7 máy bay, bắn chìm 2 ca nô, thu nhiều quân trang, quân dụng, bảo toàn được lực lượng ta.
Trong quá trình chiến đấu, tùy theo từng địa bàn, từng thời điểm mà ta vận dụng sáng tạo, linh hoạt các hình thức tác chiến, nhất là kết hợp giữa luồn sâu tập kích, bắn tỉa và đánh nhỏ, quần nhau với quân địch trên từng chiến hào, góc phố; cùng với cách đánh cảm tử của những chiến sĩ ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch.
Đặc biệt, ta đã kết hợp tác chiến tiến công địch với tổ chức phòng ngự một cách hệ thống và có trọng điểm. Chúng ta phòng ngự nhưng không cố thủ giữ đất mà chủ động cơ động, tìm nơi địch sơ hở để đánh.
Với cách đánh như vậy, bộ đội và tự vệ, công an xung phong, nhân dân đều phát huy được vai trò của từng lực lượng trong các trận chiến đấu và phục vụ chiến đấu, kết hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào và trong ngoài cùng đánh, tiêu diệt nhiều sinh lực địch; giam chân địch trong thành phố vượt thời gian dự kiến, góp phần bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ, Mặt trận di chuyển ra vùng căn cứ an toàn, tạo khoảng thời gian thuận lợi cho cả nước chuẩn bị kháng chiến lâu dài, giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi cuối cùng.



