Vận dụng tư duy chiến lược Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong cục diện thế giới mới
“Tư duy chiến lược Hồ Chí Minh” về đối ngoại và đoàn kết quốc tế là hệ thống các tư tưởng, quan điểm về thế giới và quan hệ quốc tế, các chiến lược, kế sách và biện pháp toàn cục, dài hạn trong đường lối cách mạng của Việt Nam, tương quan tổng thể với thế giới và quan hệ quốc tế, trong đó có vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây là quan điểm cần được tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo trong cục diện thế giới phức tạp và khó dự báo hiện nay.
Sức mạnh dân tộc trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Sức mạnh dân tộc là sức mạnh tổng hợp của con người, các giai tầng và nhóm xã hội trên mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hóa, xã hội… Từ triết lý về nhân dân của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi “đẩy thuyền cũng là dân mà lật thuyền cũng là dân” và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong”(1). Nhân dân là phạm trù trọng tâm trong tư duy chiến lược Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam; còn sức mạnh dân tộc trên hết và trước hết là sức mạnh của nhân dân, với nội hàm cụ thể là các nội dung khác nhau, thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa sức mạnh của nhân dân với sức mạnh của đất nước trong cục diện thế giới. Người khẳng định: “Dân có giàu thì nước mới mạnh”(2), “Dân cường thì quốc thịnh”(3), “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”(4), “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(5) và “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ”. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(6).
Như vậy, trong tư duy chiến lược Hồ Chí Minh, sức mạnh của dân tộc thể hiện tập trung ở yếu tố “5 dân”: dân giàu, dân cường, dân khí, dân trí và dân chủ. Năm yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ và có nội hàm mang tính lịch sử cụ thể bởi “Tình hình thế giới và trong nước luôn luôn biến đổi, công việc của chúng ta nhiều và mới, kỹ thuật của thế giới ngày càng tiến bộ, nhưng sự hiểu biết của chúng ta có hạn. Muốn tiến bộ kịp sự biến đổi vô cùng tận, thì chúng ta phải nghiên cứu, học tập. Nghiên cứu học tập lý luận và kỹ thuật”(7).
Hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy phát triển kinh tế số (DE) và toàn cầu hóa số (DG) cùng sự xuất hiện của thời đại trí tuệ nhân tạo (AI). Trong bối cảnh đó, Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển mới, đồng thời cũng phải đối mặt với những thách thức lớn, trong đó có thách thức đối với “bộ ba” - “thể chế, con người và công nghệ” trong quá trình kiến tạo mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo theo chiều sâu. “Cuộc cách mạng công nghệ có thể sớm đẩy hàng tỷ người ra khỏi thị trường lao động và tạo ra một “tầng lớp vô dụng” khổng lồ mới, dẫn đến những biến động xã hội và chính trị mà không một chủ thuyết hiện hữu nào biết cách giải quyết”(8). Cảnh báo này thiết nghĩ cần được xem xét thấu đáo.



