Anh hùng Lao động

VĂN TIẾN DŨNG – VỊ TƯỚNG CHỈ HUY CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

Văn Tiến Dũng (sinh ngày 02 tháng 5 năm 1917 – mất ngày 17 tháng 3 năm 2002), bí danh Lê Hoài, quê ở xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm (nay là phường Nghĩa Đô), thành phố Hà Nội.

Hà Nội22/08/2026Nguyễn Thị Thiết (Đoàn xã Vĩnh Thuận Đông)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
VĂN TIẾN DŨNG – VỊ TƯỚNG CHỈ HUY CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

VĂN TIẾN DŨNG – VỊ TƯỚNG CHỈ HUY CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH   

Văn Tiến Dũng (sinh ngày 02 tháng 5 năm 1917 – mất ngày 17 tháng 3 năm 2002), bí danh Lê Hoài, quê ở xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm (nay là phường Nghĩa Đô), thành phố Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo khó, không ruộng đất. Mẹ mất sớm, cậu bé Dũng theo cha ra Hà Nội

          Cha đột ngột qua đời khi Văn Tiến Dũng chỉ 15 tuổi, ông phải bỏ học, ở nhà trợ giúp cho anh trai làm nghề thợ may. Dù không đến lớp, nhưng ông vẫn tranh thủ lúc rảnh rỗi, mua sách về tự học thêm các môn Lịch sử, Pháp văn, Văn học. 17 tuổi, ông lại ra Hà Nội làm công cho các xưởng dệt Thanh Văn (Hàng Đào), sau chuyển sang xưởng Đức Xương Long, Cự Chung (Hàng Bông).

          Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 năm 1937.

          Từ 1939 đến 1944, ông bị thực dân Pháp bắt giam 3 lần, vượt ngục 2 lần.      Tháng 11 năm 1939, ông bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La. Hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ Sơn La về Hà Nội, ông đã trốn thoát.

          Từ tháng 12 năm 1942 đến tháng 3 năm 1943, ông đã hoạt động dưới danh nghĩa nhà sư tại Chùa Bột Xuyên (nay thuộc huyện Mỹ ĐứcHà Nội). Ông từng đảm nhiệm chức vụ Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ năm 1944. Chính trong thời kỳ này, ông đã làm quen với bà Nguyễn Thị Kỳ (tên khai sinh là Cái Thị Tám) cùng hoạt động cách mạng và sau đó họ đã trở thành vợ chồng.

          Tháng 1 năm 1945, ông bị chính quyền thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt.

          Tháng 4 năm 1945, ông là Ủy viên Thường vụ Ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ (Bộ Tư lệnh Quân sự miền Bắc Đông Dương), được phân công phụ trách tổ chức Chiến khu Quang Trung, kiêm Bí thư Khu uỷ Chiến khu Quang Trung. Tháng 8 năm 1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hoà BìnhNinh Bình và Thanh Hóa.

          Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập chiến khu II (gồm 8 tỉnh phía tây bắc và tây nam Bắc Bộ), làm Chính uỷ Chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương. Ngày 20 tháng 11 năm 1946 ông làm Phó Cục trưởng Cục Chính trị. Tháng 12 năm 1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội (nay là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam), Phó bí thư Quân uỷ Trung ương.

          Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông từng là Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Đại đoàn 320. Từ tháng 11 năm 1953 đến tháng 5 năm 1978, ông giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, chỉ gián đoạn một thời gian ngắn vào năm 1954, khi ông làm Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Genève về Đông Dương.

          Ông được giao trọng trách chỉ đạo trực tiếp nhiều chiến dịch lớn, bắt đầu từ chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (1971). Chiến dịch này giành thắng lợi, so sánh lực lượng và thế chiến lược trên chiến trường miền Nam đã thay đổi nhanh chóng.

          Trong Trị – Thiên (1972), ông được cử làm đại diện của Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo chiến dịch.

          Tháng 3 năm 1975, ông chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên. Tháng 4 năm 1975, ông giữ chức Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định (sau đổi tên thành Chiến dịch Hồ Chí Minh).

          Từ tháng 5 năm 1978 đến năm 1986, ông được giao nhiệm vụ làm Phó Bí thư thứ nhất, rồi Bí thư Quân ủy Trung ương. Từ tháng 2 năm 1980 đến 1986, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

          Năm 1986, do không được bầu vào Bộ Chính trị nên ông phải rời cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

          Ông lâm bệnh nặng và từ trần hồi 17 giờ 30 phút ngày 17 tháng 3 năm 2002 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, hưởng thọ 85 tuổi, an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch.

          Ông đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam trao tặng nhiều phần thưởng cao quý. Huân chương Sao Vàng năm 1955; Huân chương Hồ Chí Minh năm 1979.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn