Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

VÀO ĐỜI TRONG THỜI KỲ KHỞI NGHĨA SÔI ĐỘNG Ở HUẾ

Mai Xuân Tần sau khi đỗ thủ khoa tú tài Toán đã tham gia Trường Thanh niên Tiền tuyến do các trí thức yêu nước tổ chức. Trong những ngày sôi sục của Cách mạng Tháng Tám 1945, ông cùng đồng đội tham gia các hoạt động cách mạng tại Huế như treo cờ, giải giáp lực lượng cũ, tiếp quản các cơ quan và bắt giữ toán sĩ quan Pháp nhảy dù nhằm khôi phục chính quyền thuộc địa. Sau khi giành chính quyền, ông tham gia tổ chức Giải phóng quân Thuận Hóa, huấn luyện lực lượng vũ trang và tham gia phong trào Nam

Lai Châu07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi tốt nghiệp tú tài Toán vào thời kỳ có nhiều biến động lớn. Trên thế giới Hồng quân Liên Xô đã chiếm Béc-lin, phát xít Đức đã thất bại đầu hàng, chiến tranh đang chuyển sang châu Á, phát xít Nhật là đối tượng chính trị bị trừng trị. Trong nước, Nhật đảo chính Pháp, lập chính phủ Trần Trọng Kim, nhưng đang ở thế thua, chỉ là một quá độ rất mỏng manh. Thành phần có nhiều trí thức, thân sĩ yêu nước tham gia chỉ để làm vỏ bọc đợi thời cơ. Cách mạng đã có ảnh hưởng lớn rộng trong cả nước, Khắp nơi nhân dân đã sẵn sàng đón chờ sự lãnh đạo của cách mạng.

Tôi ra trường không lâu thì được tin ông Phan Anh và thầy Tạ Quang Bửu ra lập Bộ Thanh niên, chuẩn bị mở Trường võ bị Thanh niên tiền tuyến.

Tôi rất tin thầy Bửu. Đó vừa là một người thầy vừa là một nhà trí thức yêu nước. Thầy bảo: “Đất nước ta sẽ rất cần thanh niên có học, có hiểu biết vể quân sự”. Trường này học xong không bắt buộc làm việc cho chính phủ. Được biết thầy Cao Văn Khánh và mấy anh thuộc Tổng hội Sinh viên và Tổng bộ Việt Minh ở Hà Nội cũng vào học. Tôi quyết định xin vào học. Vào trường khi khai giảng, ông Phan Anh đến nói chuyện cũng bảo: Khi ra trường, không bắt buộc làm việc cho chính phủ. Lại được biết có một tổ Việt Minh lãnh đạo trường. Tôi đã yên tâm và chỉ còn lo tập trung học tập và theo các anh để hoạt động.

Sang tháng 7 năm 1945, toàn trường đã được “Việt Minh hóa”. Anh Phan Tử lăng, hiệu trưởng, nguyên là chỉ huy trung đoàn bảo an binh đồng thời chỉ huy bảo an Trung Kỳ, đã được tiếp xúc với anh Lê Tự Đồng, đại diện Việt Minh Nguyễn Tri Phương, và nhận làm theo yêu cầu của cách mạng, đã cho nhà trưởng sử dụng một số vũ khí huấn luyện dùng trong hoạt động chiến đấu và bảo vệ nhà trường. Vũ khí gồm có súng mút (mousequeton) và một khẩu đại liên Hốt-kít. Vài anh có súng ngắn riêng.

Sau ngày Nhật đầu hàng (13-8-1945), việc học tập của chúng tôi ở tại trường chấm dứt. Trường trở thành một trụ sở của Việt Minh Huế.

Toàn trường đã trở thành lực lượng nòng cốt, lực lượng xung kích đi đầu trong mọi công việc, là chỗ dựa đáng tin cậy của Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế, Ủy ban khởi nghĩa Trung Bộ, của Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế trong những ngày đầu Cách mạng tháng Tám.

Đêm đêm, anh em được phân công đi huấn luyện cho tự vệ. Anh Nguyễn Thế Lương, Trung Lập… tham gia đội AS nhưng chưa có nhiệm vụ đi ám sát. Các anh được giao hàng ngày chèo đò trên sông Hương, vận chuyển máy in, tài liệu… từ Bến Ngự đến Vĩ Dạ rồi ngược lại, theo dõi hành động của quân đội Nhật đề phòng chúng đánh úp ngôi trường đã được Việt Minh hóa. Anh Tôn Thất Hoàng tham gia việc kiểm tra canh gác ban đêm của bảo an binh tại các nhà kiều dân Pháp, kiểm soát các con đò trên sông Hương đêm khuya còn qua lại khu vực nhà trường. Đã có lần chúng tôi bắt giữ một chiếc đò chở vũ khí giấu trong những đồ trang sức rẻ tiền, đang ngược lên nguồn sông Hương.

Ngày 23 tháng 8, trong cuộc mít tinh lớn tại sân vận động thành phố, đại diện chính quyền cách mạng tuyên bố công nhận sinh viên Trường võ bị Thanh niên tiền tuyến đã tốt nghiệp và chuyển thành cán bộ lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên Huế.

*
* *


Từ sáng 21 tháng 8, chúng tôi thấy hai anh Đặng Văn Việt và Nguyễn Thế Lương dậy sớm, nai nịt gọn gàng theo trang phục nhà trường, riêng anh Việt đeo một khẩu súng ổ đạn quay có 6 viên đạn, sau mới biết là “đạn thối”. Các anh mang một bao tải dài cuộn lại bỏ lên hai xe đạp buộc chặt vào tay lái, xong hai người gò lưng đẩy xe đi. Thời gian gần đây chúng tôi đã quen việc các anh ra đi như thế, biết là đi làm nhiệm vụ do Việt Minh Nguyễn Tri Phương giao. Theo nguyên tắc bí mật, chúng tôi ai lo việc nấy, không tò mò hỏi gì. Đến hơn 9 giờ, nghe tiếng ồn ngoài phố, chúng tôi ra xem thấy trên ngọn cột cờ nhìn ra Phú Văn Lâu gần chỗ ở của trường, một lá cờ đỏ sao vàng rất to màu tươi rói đang ngạo nghễ bay phấp phới trước cung Vua. Cả thành phố nhân dân đang hoan hỉ reo hò vui vẻ chưa từng thấy:

- Cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ sao vàng!

- Cách mạng đã về!

- Dân ta đã độc lập, tự do rồi!...

Chiều về anh Việt mới kể lại câu chuyện này. Khi hai anh đang đi đến gần mới thấy cột cờ rất lớn. Nó chiếm một khu vực chừng bốn héc ta. Chân kỳ đài có ba tầng, cao 17,5 mét. Ở giữa là một cột cờ xây bằng bê tông cốt thép. Chu vi cột chừng hai ba người ôm, cao 29,52 mét. Dây kéo cờ là một sợi thừng tròn to bằng cổ tay. Trên ngọn cột cờ có một ròng rọc để đỡ đầu dây. Mỗi lần kéo lên xuống phải dùng sức mạnh của sáu người lính vạm vỡ. Bảo vệ kỳ đài là một tiểu đội lĩnh 12 người, chỉ huy là một “thầy đội”. Gặp thầy đội, anh Việt bảo:

Theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa cách mạng chúng tôi có nhiệm vụ treo cờ đỏ sao vàng lên cột cờ. Các anh cho hạ ngay cờ quẻ ly. Các anh phải thi hành, giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ.

Trước uy thế của cách mạng, thầy đội không có một chút phản ứng:

- Dạ, dạ, các ông cứ ra lệnh!

- Anh cho lính xuống đường, giúp ông bạn tôi đẩy hai chiếc xe đạp và cờ lên đây – anh Việt ra lệnh.

Sau đó, lễ kéo cờ được tiến hành theo đúng nghi thức, sáu lính pháo và thầy đội đứng hàng ngang, anh Lương đứng đầu hàng, sáu lính pháo sẵn sàng kéo dây. Anh Việt đứng ngoài hàng ra lệnh hạ cờ, sau đó kéo cờ và giơ tay chào.

Kể đến đây anh Việt còn nói thêm: “Khi nhìn lá cờ đỏ sao vàng từ từ được kéo lên đỉnh cột cờ, lòng tôi rạo rực, máu trong tôi như sôi lên vì tự hào, phấn khởi hồi hộp”.

Chủ trương treo cờ trước ngày khởi nghĩa có ý nghĩa một cuộc tập dượt và thử thách lớn: qua kết quả cuộc treo cờ, sự ủng hộ nồng nhiệt của quần chúng và phản ứng của đối phương, ta đã có thể đánh giá các cuộc vận động cách mạng đã đi sâu vào quần chúng, đối với chính quyền bù nhìn đã đạt kết quả cao, họ không còn khả năng đối phó. Điều đó càng rõ khi sau này đến ngày làm lễ thoái vị, ông lãnh binh đội cận vệ hoàng gia tìm gặp chúng tôi và nói:

- Hôm nọ, hai ông ra lệnh hạ cờ nhà vua, treo cờ Cách mạng lên cột cờ lớn. Được tin, thi hành nhiệm vụ bảo vệ Hoàng cung, tôi đã cho 120 lính khố vàng nằm rạp dọc thành của Ngọ Môn, chĩa súng vào hai ông. Xin ý kiến Hoàng đế, ngài thét lên và bảo: “Chớ, chớ! Việt Minh đấy, các người mà nổ súng thì trẫm là người chết trước đó”. Nhờ lệnh ấy mà chúng tôi không bóp cò. Hai ông không biết gì cả. Hôm ấy mà Hoàng đế ra lệnh bóp cò thì hôm nay hai ông không còn nữa và chắc chắn hôm nay tôi và vợ con tôi cũng không còn nữa.

Điều còn cần cân nhắc là cô lập bọn Nhật ra sao? Vào thượng tuần tháng 8, tình hình diễn biến rất nhanh: Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Liên Xô tuyên chiến với Nhật, tiến công Mãn Châu, đội quân Quan Đông bị đánh bại. Ngày 13 tháng 8, nhật đầu hàng, 4.500 quân Nhật ở Việt Nam chỉ còn lo cuốn gói. Thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi!

Ngày 23 tháng 8 cuộc khởi nghĩa toàn thành và toàn tỉnh bắt đầu. Trường chúng tôi chia làm ba bộ phận làm nhiệm vụ: Tôi và mấy anh em cùng cán bộ chính trị đi tước vũ khí lực lượng vũ trang và tiếp quản các công sở. Anh Đặng Văn Việt, Ngô Thế Lương đi bắt Ngô Đình Khôi, anh Võ Quang Hồ và Phan Hàm đi bắt Phạm Quỳnh. Số còn lại thành đội ngũ chỉnh tề đi tham gia biểu tình với quần chúng rồi tham dự vào bảo vệ cuộc mít tinh lớn.

Tôi trang phục chỉnh tề, tay đeo băng cờ dỏ sao vàng và mấy anh em tự vệ cùng anh Hoàng Lưu cán bộ chính trị cũng đeo băng cờ đỏ sao vàng, đi giải giáp và tiếp quản Hộ thành, nơi chỉ huy bảo vệ toàn thành nội, sau đó đi tiếp quản các công sở. Đi đến đâu cũng có quần chúng tập hợp đông ủng hộ nhiệt liệt.

Đến gặp ông lãnh binh Hộ thành, anh Lưu nói:

- Chúng tôi thay mặt Ủy ban khởi nghĩa, đến yêu cầu ông chuyển giao việc bảo vệ Hoàng thành cho cách mạng. Vận nước đã đến, mong các ông vui lòng bàn giao để tránh thảm họa cho cả hai bên.

- Dạ thưa quý ngài – ông lãnh binh nói – chúng tôi đã được lệnh tiếp nhận quý ngài để bàn giao êm thấm. Xin quý ngài cứ tiến hành.

Từ đó chúng tôi tỏa đi tiếp quản hết các cửa lớn của Hoàng thành giao cho tự vệ các phường, rồi đi tiếp quản Tam Tòa là văn phòng, nơi làm việc của Nội các, ở đây chỉ có một số nhân viên trực chờ bàn giao, sau đó đi tiếp quản Lục bộ là nơi làm việc của cá Bộ cũng vậy, đều tiến hành thuận lợi. Làm đến đâu chúng tôi niêm phong, thu chìa khóa để giao lại cho Ủy ban khởi nghĩa, rồi giao cho tự vệ trông nom. Các cơ quan quan trọng như Hoàng cung do nhà trường tạm thời bảo vệ.

Theo anh Đặng Văn Việt kể, anh cùng anh Nguyễn Thế Lương vào đồn bảo an binh lấy một xe ô tô. Cùng đi có thêm hai anh Trường Thanh niên tiền tuyến. Đến dinh cơ của họ Ngô, anh Việt và anh Lương vào thẳng nhà chính, lúc ấy khoảng 11 giờ trưa, bố con ông Ngô Đình Khôi đang ăn cơm. Thấy mấy người trang phục chỉnh tề, tay đeo băng cờ đỏ sao vàng, hai bố con đứng dậy ra đón. Anh Việt đưa tay chào theo kiểu nhà binh, đưa một phong thư và nói:

- Vâng lệnh Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế, tôi đến mời hai ông lên gặp Ủy ban khởi nghĩa. Xin mời, xe đã sẵn sàng!

- Dạ, dạ, xin vâng, vì đang ăn dở, xin phép ăn nốt bát cơm!

Sau bữa cơm, hai bố con vào mặc áo the, khăn đóng chỉnh tề ra xe.

Các anh không về Ủy ban khởi nghĩa mà theo kế hoạch đưa thẳng đến nhà giam Phủ Doãn, bàn giao, ký giấy tờ đầy đủ mới ra về.

Nhóm anh Võ Quang Hồ và Phan Hàm cũng hoàn thành nhiệm vụ bắt ông Phạm Quỳnh về tập trung ở nhà giam Phủ Doãn.

Đến chiều, về thực tế, việc giành chính quyền đã xong, kể cả ở các địa phương, ở đâu mọi việc cũng diễn ra thuận lợi, không đổ máu. Đó là kết quả rất to lớn của công tác vận động cách mạng của tổ chức Việt Minh Nguyễn Tri Phương, sự chỉ đạo sát sao của Ủy ban khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế.

Ngày 23 tháng 8, hàng vạn người ở cố đô Huế đổ ra đường và các vùng lân cận kéo về, mang cờ đỏ sao vàng tuần hành rầm rộ, diễu qua các đường phố. Đi đầu đoàn diễu hành là đoàn quân của Trường Thanh niên tiền tuyến, với quân phục, trang bị súng ống, đội ngũ chỉnh tề. Sau mấy tháng hoạt động, nhân dân thành phố đã hiểu nhiều về các anh lính trẻ này. Họ đều là con em các gia đình trong phố, có văn hóa và có đạo đức, chưa khi nào làm một điều gì gây thiệt hại hay làm mất lòng dân, đã được nhân dân quý mến. Nay lại thấy họ đều nằm trong đội ngũ của lực lượng vũ trang cách mạng, đã có mặt cùng nhân dân trong những ngày trọng đại này. Ai cũng thấy lòng tự hào dân tộc sâu sắc và lòng tin mãnh liệt đối với cách mạng đã đem lại sự đổi thay thực sự cho cuộc sống ngột ngạt trước đó. Đi đến đâu, đoàn quân cũng được nhân dân tụ tập hai bên đường, vẫy cờ chào rất vui vẻ, sôi nổi. Anh em trong hàng quân cũng cảm thấy nhân dân ta đang bước vào một cuộc đời mới, thấy một điều gì thật lớn lao, cao cả đang diễn ra, xúc động không cầm được nước mắt.

Đoàn diễu hành của quần chúng đi về tập trung ở Si-tát Huế để dự cuộc mít tinh lớn biểu dương lực lượng và làm lễ ra mặt Ủy ban khởi nghĩa Trung Bộ, Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế cùng chính quyền lâm thời Thừa Thiên – Huế. Đội ngũ của nhà trường làm đội danh dự và bảo vệ mít tinh. Sau khi an tổ chức tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu, đại diện chính quyền cách mạng đọc diễn văn và tuyên bố từ nay chính quyền về tay nhân dân, tiếng vỗ tay rào rào kéo dài, khẩu hiệu hô vang trời dậy đất.

Ngày 25 tháng 8, Bảo Đại tuyên bố thoái vị.

Ngày 31 tháng 8, lễ thoái vị, giao ấn kiếm của hoàng triều, tổ chức trên cửa Ngọ Môn. Đồng chí Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận thay mặt Chính phủ Trung ương vào nhận.

Lễ được tổ chức long trọng và cảm động, có quần chúng và Trường Thanh niên tiền tuyến làm đội danh dự đứng ở bãi giữa cột cờ và Ngọ Môn. Trước khi làm lễ cho kéo cờ quẻ ly lên lại, vua Bảo Đại đọc tuyên ngôn thoái vị có câu: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lê”. Lễ kéo cờ quẻ ly xuống rồi kéo cờ đỏ sao vàng lên đã thể hiện từ nay một chế độ hoàn toàn mới đã thay thế cho một chế độ cũ đã lỗi thời. Mọi người tham dự lễ đều cảm nhận một cách cụ thể và dứt khoát sự thay đổi từ chế độ thực dân phong kiến tàn bạo, độc đoán, bất công sang chế độ cộng hòa, dân chủ, văn minh, tiến bộ. Sau hàng ngàn năm bị đè nén, nay dân ta đã được độc lập, tự do, đã thật sự đổi đời rồi!Ngày 29 tháng 8, một toán quân Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ, gần ga xe lửa cách Huế độ 20 ki-lô-mét, phía Tây Bắc. Dư luận Huế rất xôn xao. Anh Phan Tử Lăng lúc này với chức mới là Ủy viên quân sự giúp đồng chí Nguyễn Chánh, Ủy viên trưởng quân sự Trung Bộ, được phái đi gặp toán này vì họ xưng danh là “Phái bộ Đồng minh”. Anh Lăng lây thêm một số anh em sinh viên, trong đó có anh Nguyễn Trung Lập, anh Đặng Văn Châu. Khi về, các anh kể lại chuyến đi với thái độ rất ấm ức. Toán quân nhảy dù xuống Hiền Sĩ gồm có năm sĩ quan Pháp và một quản đội. Chúng tự nhận là phái bộ Đồng minh và đòi được đưa về gặp chức sắc trong triều đìn (Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi). Khi gặp chúng, anh Lăng tự giới thiệu là phái viên của Chính phủ ta, thì tên chỉ huy nói rất láo xược: “Một cái chính phủ kỳ quặc”. Thật láo quá! Tất cả anh em chúng tôi đều sục sôi căm thù và cho đây là bọn thực dân Pháp đội lốt Đồng minh để trở lại xâm lược.

Một cuộc họp cấp tốc những anh em có mặt ở nhà đã được triệu tập. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí cần phải nhanh chóng tóm gọn bọn này. Vì tình hình khẩn trương không thể đợi lệnh của anh Phan Tử Lăng đang đi báo cáo với Ủy ban quân sự, theo đề nghị của anh Nguyễn Trung Lập, anh Nguyễn Thế Lương được bầu chỉ huy “trận đánh”. Một kế hoạch chớp nhoáng được đặt ra dưới sự nhất trí cao: lấy cớ đem thư trả lời của Chính quyền, chớp thời cơ bất ngờ bắt gọn bọn này. Anh Lê Thiệu Huy được phân công mang thư và cầm cờ đỏ sao vàng. Các anh em khác lặng lẽ bao vây ngôi nhà ở của chúng khi anh Huy nói bằng tiếng Pháp, đại ý: “Thừa lệnh của Chính quyền, chúng tôi đến đưa thư trả lời cho các ông và đón các ông về Huế”. Các anh Châu và Diên được phân công đi mượn xe.

Vào khoảng 3 giờ chiều ngày hôm đó, chúng tôi lên xe xuất phát. Xe chạy hơi than, ọc ạch không tới 20 ki-lô-mét một giờ, chúng tôi “bị rang cà phê” mệt lử, nhưng rất vui. Đến sông Cổ Bi, xe không qua cầu được, chúng tôi xuống xe đi bộ khoảng một ki-lô-mét còn lại, đi hàng hai, bước đều vừa đi vừa hát.

Lúc 4 giờ chiều, đoàn đã đến cổng ngôi nhà ở của chúng. Nhà có ba gian xây gạch, chỉ gian giữa có cửa ra vào, còn hai gian kia chỉ có cửa sổ nhìn ra sân. Chúng tôi đã nhìn thấy năm người Âu đang ngồi ở trước thềm nhà. Thấy chúng tôi họ đứng dậy ngơ ngác…

Anh Thế Lương hô: “Đứng lại!”. Đoàn quân đứng “rộp” lại trong sân dọc theo ngôi nhà gạch. Theo đúng kế hoạch, anh Huy vừa chìa thư vừa nói dõng dạ câu tiếng Pháp đại ý: “Nhân dân Ủy ban cách mạng Trung Bộ, tôi giao cho ông một bức thư”. Trong lúc đó, anh em lặng lẽ tản ra bao vây ngôi nhà. Người Âu thứ sáu tay cầm chiếc mũ nghe điện đài từ trong nhà ra nhập bọn. Trong lúc chúng hăm hở thì anh Thế Lương hô to: “Giơ tay lên”, lúc này anh em đã vây chặt chúng lại. Một tiếng súng nổ vì cướp có. Cả sáu tên đều nhất loạt đưa thẳng tay lên trời, mặt tái mét. Sau khi kiểm tra thấy chúng không mang vũ khí, chúng tôi dẫn chúng xuống sân sau bếp bắt quay mặt vào hàng rào trước mũi súng canh chừng của sáu sinh viên. Số anh em còn lại được phân công vào nhà thu vũ khí, phương tiện, thông tin, điện đại, tài liệu, các thỏi bạc và tiền…; không lấy quần áo và đồ dùng cá nhân. Chúng tôi đều thực hiện đúng quy định.

Tất cả chiến lợi phẩm được chuyển ra xe. Trong cặp tài liệu thấy có một công vụ lệnh, tôi cùng mấy anh xum lại xem nội dung như sau:

“Mật lệnh:

Quan tư Castella có nhiệm vụ bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, với các lực lượng Pháp hải ngoại (FFE) và các lực lượng Pháp nội địa (FFI), để tổ chức chiếm lại các công sở và thành lập chính quyền thuộc địa ở miền Trung Việt Nam.

Tất các FFE và FFI đều phải đặt dưới quyền chỉ huy của quan tự Castella. De Gaulle”.

Chúng tôi phổ biến cho chính quyền xã biết chúng là tù binh nguy hiểm, yêu cầu địa phương vẫn cho ăn uống tử tế nhưng phải giam trong nhà và canh gác cẩn thận, sẽ có lệnh của tỉnh sau. Chúng tôi ra về trong không khí rất hân hoan. Về đến nhà, vừa mới ăn cơm xong chưa kịp nghỉ ngơi đã được tin anh Phan Tử Lăng xuống trường. Chúng tôi vội ăn mặc chỉnh tề, tập trung ra phòng họp làm việc nay. Anh phê bình chúng tôi sao chưa báo cáo đã hành động! Nhưng anh công nhận là chúng tôi đã đánh giá đúng địch nên không truy cứu và thông báo cho chúng tôi biết Ủy ban quân sự đã lệnh cho đưa sáu tù binh đó vào trại giam.

Sau này, Cục Quân báo của ta có tài liệu cho biết Pháp có kế hoạch gọi là “kế hoạch 5 điểm” của Lơ Cléc, tướng bốn sao, Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, nhằm khôi phục lại nền thống trị thực dân của chúng trong thời gian ngắn, trong đó có ba toán nhảy dù xuống ba miền, toán xuống Hiền Sĩ là một. Nếu ta chỉ chậm vài ngày, chúng có thể liên lạc với 500 tên Pháp còn bị giam ở trường Thiên Hựu (Providence) với 4.500 tên Nhật còn ở Mang Cá cùng các công chức cũ vẫn còn nguyên thì chính quyền cách mạng mới hình thành sẽ gặp vô vàn khó khăn không lường trước được. Trường Thanh niên tiền tuyến đã lập được một chiến công đầu quan trọng.

Sau khi giành được chính quyền, trường vẫn giữ nguyên vẹn nhưng mang tên mới là Trường võ bị Thuận Hóa – tuy vậy, nhân dân vẫn quen gọi tên cũ là Thanh niên tiền tuyến – thuộc sự lãnh đạo trực tiếp vừa của Xứ, vừa của Tỉnh. Đồng chí Nguyễn Chánh là Ủy trưởng Quân sự Trung Bộ và ba đồng chí phó là: Phan Tử Lăng, Trần Công Khanh và Cao Thanh Trà. Đồng chí Lê Tự Đồng là Ủy trưởng Quân sự của Tỉnh.

Sau lần đi bắt Tây ở Hiền Sĩ về, anh em thống nhất nên cử người điều khiển công việc chung và bầu anh Phan Hàm làm Chủ tịch, anh Cao Văn Khánh làm Phó Chủ tịch Ban Giải phóng quân. Hôm sau anh Plhan Tử Lăng xuống giao cho chúng tôi nhiệm vụ đứng ra tổ chức Giải phóng quân Thuận Hóa.

Để thực hiện nhiệm vụ mới, sau ngày Hoàng triều làm lễ thoái vị và giao ấn kiếm, chúng tôi chuyển trụ sở sang Trường Quốc học. Nhân ngày tựu trường, theo lời kêu gọi “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”, anh em học sinh tình nguyện tòng quân rất đông. Lòng yêu nước, khát khao độc lập chưa bao giờ cao như vậy. Đặc biệt đồng bào Huế rất có cảm tình với anh em Thanh niên tiền tuyến vì đây là những thanh niên có học thức, có tư cách đạo đức. Nay thấy họ đều đi Giải phóng quân nên cũng lôi cuốn nhiều người làm theo. Đặc điểm của giải phóng quân Thuận Hóa trong đợt đầu tiên này là học vấn rất cao, không thiếu gì tú tài, cử nhân. Tôi coi như nhập ngũ ngày đó.

Ngoài chủ tịch và phó chủ tịch đã có, các anh cử thêm một số ngành: quân báo do anh Nguyễn Thế Lương phụ trách, công binh là anh Đào Hữu Liêu, quân giới là anh Võ Sum, thông tin liên lạc là anh Ngô Đức Thọ. Các ngành khác phải bổ sung dần về sau.

Về tổ chức, lập ra từng phân đội (trung đội), trực thuộc Ban Giải phóng quân, mỗi phân đội 38 người gồm ba tiểu đội 12 người. Phân đội trưởng do anh em Tiền tuyến đảm nhiệm, còn cán bộ phân đội phó và tiểu đội trưởng thì bầu chọn những người có “tư thế” hơn để giao. Chỉ trong tháng đầu đã tổ chức được 25 trung đội. Anh em rất hăng hái, có đơn vị mới tổ chức xong là ra huấn luyện ngay đội ngũ, bắn súng… Chỉ trong một thời gian ngắn đã đi vào nền nếp.

Súng lấy thêm ở đồn bảo an, kho bảo an, kho lính khố vàng không đủ. Theo nhân dân báo tin ở Mang Cá có kho súng do Nhật đang giữ, sau khi anh Nguyễn Trung Lập rất táo bạo vào kho để trinh sát biết chắc có nhiều súng, anh Khánh mới tổ chức anh em đưa xe đi lấy về. Một lần khác lại được tin có chín cái hầm đạn của Nhật ở khu đồi phía Tây Huế, ta phải huy động nhiều xe của dân chở anh em giải phóng quân vào vác đạn, làm quên ăn quên ngủ chuyển hết về kho quân giới. Đây là nguồn cung cấp trang bị cho những ngày đầu giải phóng quân Thuận Hóa.

Về ăn uống, chúng tôi chỉ biết đề ra số người ăn, còn làm thế nào để có cái ăn thì hoàn toàn do các chọ Võ Thị Thể, Phan Thị Cúc Hoa, Ngô Thị Chính và chị em bên Trường Đồng Khánh liên hệ với địa phương giải quyết. Chỉ biết có một điều, nhờ sự chăm sóc của quý chị, chúng tôi được ăn rất ngon, hợp khẩu vị.

Về việc ở trú quân lại rất đơn giản: lập xong trung đội nào thì giao cho trung đội trưởng đưa về các địa phương tập luyện và được đồng bào, đồng chí các nơi tập tình giúp đỡ, địa phương sẵn sàng lo liệu

Một thời gian sau, hai anh Nguyễn Chí Thanh và Nguyễn Chánh đến thăm và nói chuyện với anh em Thanh niên tiền tuyến. Các anh biểu dương những cố gắng và thành tích của anh em, nhất là tinh thần đoàn kết, chủ động tham gia xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh. Các anh chỉ thị cần thống nhất tổ chức Ban Giải phóng quân của anh em vào Ủy ban quân sự của tỉnh và giới thiệu anh Lê Tự Đồng là Ủy trưởng quân sự của tỉnh. Tháng 10 năm 1945, Ban Giải phóng quân nhập vào Ban chỉ huy quân sự Thừa Thên – Huế và chuyển trụ sở về đồn Phan Đình Phùng gần tòa Khâm cũ.

Khi có yêu cầu của Trung ương, Ban Giải phóng quân đã tổ chức các đoàn Nam tiến, lần lượt cử đi 12 trung đội vào tham chiến trên hai mặt trận Sài Gòn và Nha Trang, mở đầu phong trào Nam tiến của Giải phóng quân Thừa Thiên – Huế. Sau khi mặt trận Nha Trang vỡ (Tết 1945), các trung đội đã phân tán đi nhiều nơi làm nòng cốt cho các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phan Rang, Phan Thiết. Có một số trung đội sang giúp bạn Lào, trong đó có trung đội 14 do tôi làm trung đội trưởng. Có một số anh đã ngã xuống ở các chiến trường. Anh Lê Thiệu Huy, anh Lương Phan Ngọc, anh Võ Ngân, anh Nguyễn Văn Tải, anh Nguyễn Trung Lập, anh Từ Bộ Cam (mất tích)… Trừ một số rất ít rơi rớt do hoàn cảnh, còn hầu hết đều tham gia hai cuộc kháng chiến, tám anh được phong tướng: Cao Văn Khánh là Trung tướng; Phan Hàm, Nguyễn Thế Lương, Nguyễn Thế Lâm, tôi (Mai Xuân Tần), Đoàn Huyên, Võ Quang Hồ, Đào Hữu Liêu là Thiếu tướng.

Tôi vào đời như thế. Đỗ thủ khoa tú tài Toán, tôi có thể chọn con đường học đại học theo ý muốn để đạt ước mơ của tuổi trẻ, nhưng tôi đã rẽ ngang đi theo cách mạng, theo cuộc đời binh nghiệp. trước mắt tôi, con đường khói lửa, khốc liệt còn chờ đợi. Nhưng trong khí thế Cách mạng tháng Tám, tôi vẫn dấn thân với lòng trai trẻ phơi phới niềm tin. Tôi đã chọn đúng hướng, không chút do dự, không hề nuối tiếc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn