Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Vắt rừng và những nấm mộ ven đường

Đoạn hồi ký này có nhiều lớp cảm xúc rất mạnh: vắt rừng Trường Sơn, rừng khộp khắc nghiệt, cái đói, đồng đội ngã xuống trên đường hành quân, và cả câu chuyện về người bác sĩ thiếu tình người. Vì vậy tên đoạn nên gợi được sự khắc nghiệt và mất mát trên đường hành quân.

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Điều bực mình kinh tởm và đáng sợ là vắt. Hầu hết các trục trên đường Trường Sơn nơi nào cũng có vắt. Khi vượt qua những đoạn đường ẩm ướt rừng rậm bắt gặp vô vàn vắt. Nó nằm phục sẵn trong lá cây lá ủ chờ người hoặc vật đi qua phóng rất nhẹ bám vào chân tay, chui lên cổ, chui vào lưng bụng ... Lúc chưa hút máu vắt lớn hơn cái tăm xỉa răng một chút. Hút máu no, nó to bằng đầu chiếc đũa ăn. Có con phình to bằng nửa ngón tay út, đến bốn năm phân tây. Khi nó bám hút máu ta không hề biết, không ngứa không đau. Nó tiết ra một chất làm loãng máu. Nếu biết dứt được nó ra máu vẫn chảy. Đến khi chất làm loãng máu tan, máu đông lại. Mang tất hoặc quấn băng vào chân vẫn bị nó xoi thủng chui vào bám lấy da ta tha hồ hút. Một ngày hành quân không ai tránh khỏi cái nạn vắt chết tiệt này.

Gặp lúc trời nắng khô hạn qua những con suối cạn chỉ còn đọng từng vũng nước chạm phải không biết cơ man nào bươm bướm với nhiều màu sắc trông loá mắt. “Nước khe cạn bướm bay lèn đá” câu thơ Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây của Nhà thơ Phạm Tiến Duật tả đúng thế. Có bóng người đến nó đồng loạt bay tỏa như một cơn mưa hoa từ đất phun lên trong ánh nắng lấp lánh muôn màu thật đẹp mắt.

Tôi ngán nhất khi phải băng qua những khu rừng khộp. Khộp là loại cây có dầu. Đường kính thân cây từ 20 đến 30cm, cao 8 đến 10m. Da mốc xù xì. Lá to bằng bàn tay xòe. Nó mọc cánh nhau từ 5 đến 8m. Đã là rừng khộp ít có loại cây nào sống chung với nó. Duy nhất chỉ có một thứ cỏ le. Loại này mọc ken dày cao đến đầu ngực hoặc vai người. Điều lạ là đất khô cằn pha sỏi trừ cây khộp không loại cây nào mọc nổi. Thế mà cỏ le xanh tốt mượt mà. Gọi nó cỏ nhưng không phải là thứ thực phẩm cho loài thú ăn cỏ. Nếu rừng khộp chỉ có thế không gì đáng nói. Ngán ở chỗ là có vùng đi suốt ngày không ra khỏi “thế trận ma quái” này. Tầm nhìn quét đến đâu chỉ rặt cây khộp và cỏ le. Có lúc muốn phát khùng bởi sự nhàm chán của đôi mắt.

Cuộc “tiểu trường chinh” đã gần nửa tháng. Cái đói vẫn dai dẳng đeo bám chúng tôi. Ba lạng gạo cho một ngày ăn chỉ đáp ứng 1/3 nhu cầu cần thiết nuôi dưỡng cơ thể nhất là với lính cường độ lao động rất cao. Mọi người xuống sức mặt phờ phạc mắt trũng sâu. Một hai ngày đầu mỗi đại đội có vài ba đồng chí sốt rét yêu mệt, anh em san sẻ mang vác hộ nên số này cố bám theo đơn vị. Năm bảy ngày sau số yếu mệt tăng lên, tiểu đoàn phải tổ chức bộ phận thu dung do phó chính trị viên tiểu đoàn và các đại đội phó chính trị phụ trách. Bộ phận này đón dẫn những anh em tụt lại sau không bám kịp đội hình. Chừng 3 giờ chiều đơn vị đến bãi khách trạm. Bộ phận thu dung 6 hoặc 7 giờ tối mới đến. Càng về sau không đến kịp trong ngày anh em tạm đến chỗ hạ trại chọn những anh em khá hơn quay lại đón dìu số thu dung này. Thường trong lúc hành quân có đồng chí lên cơn sốt mệt lả không thể đi đồng đội đành mắc võng cho đồng chí nằm nghỉ đợi bộ phận thu dung đến sau tiếp nhận. Có trường hợp khi thu dung đến lật tấm đắp phát hiện tim đồng chí đã ngừng đập. Người yếu gần muốn kiệt sức run tay đào huyệt mai táng đồng đội mình bên cạnh lối đi. Dùng dao găm khắc tên đồng chí lên một thân cây gần đó thay bia mộ. Không hương khói chỉ có những dòng nước mắt của người đang sống tiễn đưa.

Trên đường “xuôi vạn lý” thỉnh thoảng tôi bắt gặp những mộ đắp vội sơ sài như thế. Mỗi lần gặp, từng anh em rút xẻng đắp bồi lên thêm một ít đất để mộ được cao thêm, hy vọng đồng chí mình dưới đáy mộ được ấm cúng thêm một chút.

Tiểu đoàn tôi suốt cuộc “Trường chinh” chỉ xảy ra một trường hợp nhưng không phải đang hành quân mà lúc đã đến nơi nghỉ. Một chiến sĩ xung phong giúp anh nuôi thổi cơm. Đang làm anh thấy váng đầu lên võng nằm nghỉ. Đến lúc ăn cơm gọi mấy lần không thấy đáp. Lật tấm đắp mới hay anh đã tắt thở. Ra đi có được đồng đội bên cạnh âu cũng ấm lòng hơn các đồng chí lìa trần đơn độc lẻ loi bên vệ đường. Anh đi im ắng quá, không một lời trăn trối nhắn nhủ vĩnh biệt đồng chí anh em!

Riêng tôi có chuyện hi hữu xảy ra. Khi tiểu đoàn vào đến khu vực B3 (Tây Nguyên) còn hai ngày đường nữa sẽ đến vị trí tập kết trung đoàn. Đến bãi khách trạm tôi vừa mắt võng xong bỗng thấy người choáng váng mắt tối sầm ngã lăn quay ngất lịm. Tôi được cấp cứu tỉnh lại. Tay chân tôi cứng đơ, các ngón tay không co duỗi được. Anh em chuyển tôi vào cơ quan trạm mắc võng nằm bên ngoài lán dành riêng cho khách cấp cao, đồng thời điện báo trung đoàn. Điều lạ, ngay lán cách tôi vài mươi bước chân có cặp vợ chồng một bác sĩ. Họ là khách ưu tiên của trạm. Nhìn mặt tôi thấy quen. Đây là vị bác sĩ có chút ít tiếng tăm khi còn ở miền Bắc. Ông trên đường vào công tác tại B3. Ông không quan tâm đến chúng tôi khi thấy người ta khiêng một bệnh binh đến nằm gần bên ông. Hai vợ chồng ông thản nhiên lấy lương khô ra nhâm nhí không hỏi đến một lời. Sau ngày giải phóng miền Nam tôi biết tin ông phong hàm giáo sư. Ông bác sĩ C có thể là một thầy thuốc có chuyên môn giỏi nhưng không có cái tâm và thiếu tình người.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn