Bài viết

VỀ MIỀN KÝ ỨC

Tôi chậm rãi dạo bước trên con đường làng đi Tân Thịnh để đến nhà ông Vũ Ngọc Cáp, một thương binh hạng 4/4, là Tiểu đội trưởng Tiểu đội pháo cao xạ, một trong chín tiểu đội bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên trong chiến dịch Điên Biên Phủ năm ấy. Trời bắt đầu vào hạ, nắng mới vẫn còn phảng phất cái khô hanh của mùa đông. Gió lặng, nắng như trải một tấm lụa mỏng tang vàng óng lên cánh đổng lúa hai bên đường. Lúa đang thì con gái, lá xanh thẫm mượt mà. Mùi nồng nồng của đất xen lẫn mùi thơm nồng nàn

Lào Cai04/12/2025Hoàng Kim Yến (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nhà ông Cáp nằm ven con đường, tựa lưng lên một quả đồi nhỏ và nhìn về phía cánh đồng xanh mát mắt ấy. Thấy tôi đến, bà Lê - vợ ông Cáp ra tận sân đón tôi với nụ cười hổ hởi. Sự vồn vã đón khách của bà khiến tôi chợt nhớ tới những người bà hồn hậu nơi làng quê. Thật thà, chất phác, mến khách và dễ gần. Bà Lê rót nước mời tôi rồi đon đả:

- Cô uống nước đi rồi ngồi chờ ông nhà tôi một tí, ông ấy vừa đi tập thể dục về.

Ông Cáp xuất hiện làm tôi hơi bất ngờ, bởi chiến sĩ Điện Biên năm xưa mà trông ông còn rất trẻ, trẻ hơn so với tuổi bảy mươi tám của mình. Quả thật những người vóc xương nhỏ như ông là trẻ lâu lắm. Thấy ông có vẻ hiền hậu nên tôi cũng mạnh dạn đùa vui:

- Bà chăm ông giỏi nhỉ. Gần tám mươi rồi mà ông vẫn còn khoẻ ghê.

Ông cười hiền tâm sự:

- Do tôi ăn uống điều độ, tập thể dục thường xuyên và thực hiện ba không: Không hút thuốc, không uống rượu, không chè đặc đấy cô ạ. Chứ trước đây vào khoảng năm 1959 tôi đã tùng nằm liệt ở bệnh viện 108 tưởng chết. Người tôi yếu rớt, cứ ngất lịm đi rồi lại tỉnh. Phòng tôi điều trị toàn là những thương binh nặng. Một số người đã không trụ nổi. Còn tôi thời gian ngất lịm đi nhiều hơn lúc tỉnh. Tôi không thể quên được dòng chữ Sống vinh dự, chết vẻ vang trên tường mà mỗi khi mở mắt là tôi lại nhìn thấy. Lúc ấy tôi nghĩ có lẽ đó là lời an ủi cuối cùng để chúng tôi ra đi một cách thanh thản và nhẹ nhàng.

Tôi ngước nhìn ông để tìm lại dù là một nét nào đó trên gương mặt ông thể hiện sự gian khổ khi phải chống đỡ với bệnh tật hiểm nghèo. Nhưng tôi không tìm thấy. Đôi mắt ông vẫn tinh nhanh, nước da sáng bóng, cử chỉ nhanh nhẹn, hoạt bát. Thấy lạ tôi hỏi:

- Sau lần đó các vết thương của ông không còn tái phát nữa?

- Có chứ, vết thương do đại bác 105 vạt bay mất một mảng đầu bằng bàn tay, làm chấn thương sọ não, cứ trái gió trở trời là lại tái phát. Những khi tái phát tôi đau đầu không thể tả nổi. Đau đến mức quằn quại, lăn lộn từ trên giường nhảy phăng xuống đất, bất biết rằng nhảy xuống thì chân tay hay người có đau hay không. Mãi đến gần đây thì nó không tái phát đến mức ấy nữa chỉ đôi lúc thấy nôn nao thôi. Tập thể dục và ăn uống đầy đủ khiến tôi đỡ nhiều đấy cô ạ.

- Ngày ở viện 108 ông nằm liệt giường cũng do vết thương ở đầu này tái phát ạ.

- Chỉ một phần thôi, còn chủ yếu là vết thương ở cột sống. Ngày đó vào năm 1952 ở Hà Nam Ninh, chúng tôi được lệnh đánh độn thổ một tiểu đội của địch. Cả tiểu đội tôi mỗi người tự đào cho mình một chiếc hầm vừa khít với người mình ở ngay bên vệ đường. Khi đào xong thì nằm gọn xuống hầm và nhờ đồng đội rải cỏ lên, cứ thế cho đến khi chỉ còn lại một anh chỉ huy. Anh ấy tìm một bụi cây nấp để quan sát, chờ cho quân địch lọt vào giữa trận địa mai phục của ta thì sẽ phát lệnh xông lên cướp súng, đánh địch. Lúc đó chiếc xe Zip chở chỉ huy địch dẫn đầu chèn lên người tôi. Do yêu cầu phải bí mật vì địch chưa lọt vào giữa trận địa nên tôi phải cắn răng chịu đựng để cho xe của chúng chèn dọc từ đùi lên hết sống lưng tôi. Nếu như lúc đó tôi không nghiêng đầu sang một bên thì có lẽ nó chèn bẹp đầu tôi ấy chứ. Sau lần đó xương sống của tôi bị chấn thương, ba đốt sống bị xơ cứng, nó còn làm tổn thương đến tim, đến các bộ phận ở ổ bụng khiến bụng tôi cứ chướng lên. Cộng với một mảnh đạn ở lưng nữa. Tất cả chúng khiến tôi phải nằm liệt giường trong bệnh viện.

- Vậy là cuộc đời chiến đấu của ông đã để lại ba vết thương ấy trên người?

- Không, tôi còn một vết thương nữa ở đùi, do bị bom Napan đốt cháy. Vết bỏng ăn sâu vào thịt khoảng 1cm. Bây giờ thành một cái sẹo dày véo vào không có cảm giác đau.

Tôi thấy lạ, với những thương tật như thế sao ông chỉ được xếp hạng thương binh hạng 4/4. Lựa lời hỏi ông, ông nói:

- Vết thương do xe chèn lên và vết thương do đạn xuyên qua bắp chân, tôi không có giấy tờ chứng minh. Ngày đó tôi còn trẻ lắm bị thương thì chỉ nghĩ là điều trị cho chóng khỏi để được đi chiến đấu tiếp thôi chứ đâu có nghĩ đến việc lấy giấy tờ để được hưởng chế độ sau này. Chính vì thế mà ngay sau khi vết thương mới ổn định, chưa lành hẳn thậm trí vẫn còn đau là tôi lại hăm hở lên đường chiến đấu.

Ông vẫn cười hiền không có gì tỏ vẻ bất bình về sự thiệt thòi của mình. Dễ hiểu thôi, thế hệ các ông đã ra đi chiến đấu, không quản gì đến tính mạng đâu phải để vài chục năm sau được hưởng một chút tiền trợ cấp thương tật. Tôi nhìn ông cười, nói:

- Nghe nói ông còn tham gia trận đánh Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ?

- Ngày đó sau khi nhận pháo ở ngã ba Cầu Nòi, chúng tôi tiếp tục hành quân kéo pháo vào trận địa Điện Biên Phủ. Để cho địch khỏi phát hiện, chúng tôi ngụy trang pháo theo kiểu giàn mướp. Thấy chúng tôi cứ hò nhau đẩy một khối vừa vuông, vừa to, lính bộ binh và anh em dân công cứ thắc mắc mãi. Họ nói với nhau: “Bộ đội chi mà hay rứa?” Có anh lính trẻ tò mò cố tình tụt lại phía sau đến vạch lá ngụy trang ra dòm, nhìn thấy pháo anh phấn khởi hét to: “Các bạn ơi, là bộ đội súng to. Phen này thì lũ giặc chết nhá”. Kể từ đấy chúng tôi không bị gọi là bộ đội giàn mướp nữa.

Tôi bật cười trước sự hồn nhiên ấy. Thấy tôi cười ông kể tiếp:

Lính tráng chúng tôi ngày ấy còn trẻ lắm, có anh mới chỉ mười bảy tuổi nên sống rất vô tư. Thế nên sau mỗi trận đánh lính lại ngồi thổi kèn ácmôlica, hát, khâu quần áo hoặc đọc thư nhà. Cùng chia sẻ với nhau mỗi khi đọc thư nhà vui lắm cô ạ.

Ông cười mà ánh mắt xa xăm như thể ông đang được sống lại nhũng phút giây vui vẻ thời đó. Tôi lặng im nghe, còn ông vui vẻ kể tiếp:

- Hành quân vào trận địa gian khổ là điều hiển nhiên, nhưng điều tôi ngạc nhiên nhất là không khí chuẩn bị cho chiến đấu thật là sôi nổi. Từng đoàn người hối hả tiến vào trận địa đông như đi trẩy hội ấy. Họ vui vẻ gồng gánh, hành quân trong tiếng hò, tiếng hát. Quả thật là không sai một chút nào khi có nhà văn đã viết “Đèo Lũng Lô anh hò chị hát” cô ạ.

Tôi bất ngờ vì từ trước đến nay tôi mới chỉ mường tượng đến những gian khổ mà người lính phải chịu đựng trong chiến tranh chứ tôi không thể ngờ rằng trong gian khổ họ lại vui đến thế. Phải chăng chính tinh thần hăng hái ấy cũng là một nguyên nhân khiến thực dân Pháp không tài nào thắng nổi ta. Tôi tâm sự suy nghĩ của mình với ông, ông nói:

- Trong gian lao, vất vả cái tinh thần là quan trọng lắm. Như những ngày ở vùng hậu địch, cùng một năm 1952 ấy, chúng tôi cũng dùng phương pháp đánh vào tâm lý địch và đã thu được kết quả rất tốt đấy cô ạ. Ngày đó tôi có nhiệm vụ trà trộn với dân, ban đêm bí mật vào vùng kháng chiến để cùng anh em du kích đi đánh đồn địch. Khi đó còn khó khăn lắm không có súng để đánh địch đâu. Cả tiểu đội tôi chỉ có duy nhất một khẩu. Thế nên chúng tôi phải đánh vào tâm lý chúng, làm cho chúng hoang mang bằng cách lấy củ chuối về gọt thành lựu, đạn, súng, pháo rồi lấy nhọ nồi bôi đen cho giống thật. Sau đó cho anh em giắt quanh người và vác theo các bộ phận của pháo. Người vác chân pháo, người vác nòng pháo, người vác mâm pháo rồi hành quân vào làng. Do lực lượng bộ đội mình quá ít nên chúng tôi cứ phải hành quân qua làng nhiều lần để cho chúng tưởng bộ đội ta rất đông, có nhiều súng, lựu đạn và cả pháo nữa. Dân tình trong làng thì truyền tin nhau rằng bộ đội chủ lực đã về. Địch hoang mang lắm. Khi tư tưởng chúng hoang mang thì ta dễ cướp được súng của chúng để đánh chúng cô ạ. Tôi nhìn ông cười hỏi.

- Nghe nói đại đội của ông đã bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên trong chiến dịch Điện Biên Phủ?

- Tôi nhớ như in lần đó. Sau khi nghe trung đội trưởng phát lệnh, tôi cùng tám tiểu đội trưởng khác lấy hết sức của mình hô lại khẩu lệnh thật to cho anh em nghe thấy bởi tiếng máy bay gầm rú trên đầu lọng cả óc nên anh em rất khó nghe. Lệnh bắn được phát ra thì ngay lập tức một tràng pháo nổ liên tiếp như ngô rang: “Oàng... oàng...oàng oàng... oàng oàng oàng...”, những tiếng pháo nổ rất to làm rung chuyển cả đất trời. Chúng nổ to đến nỗi một ngày hôm sau chúng tôi vẫn thấy có tiếng ù ù như pháo nổ bên tai. Chiếc máy bay bị pháo chúng tôi bắn bốc cháy ngùn ngụt, lao đầu xuống khoảng hai mươi mét thì chẻ làm đôi rơi xuống. Cô không thể tưởng tượng nổi anh em đã vui đến thế nào khi biết mình bắn rơi máy bay của Pháp đâu. Họ bỏ cả pháo nhảy tưng tung như những đứa trẻ, mũ cầm trên tay vung lên đầu khua tít. Không cần biết là phải bí mật, họ hô to: “Cháy rồi! Trúng rồi! Máy bay Pháp cháy rồi! Hê... hê... hê”. Dân công, lính bộ binh từ chỗ ẩn nấp cũng nhảy lên vui sướng. Họ reo hò, bàn tán xôn xao cả một cánh rùng. Vui lắm cô ạ. Việc bắn cháy được máy bay vừa khích lệ được tinh thần anh em, vừa giáng cho Pháp một đòn phủ đầu choáng váng. Cả ngày hôm ấy đến sáng hôm sau chúng không dám bay nữa. Những ngày sau chúng chỉ dám bay cao để thả dù thôi. Chính vì vậy mà hầu hết chiến lợi phẩm của chúng toàn bay sang trận địa của ta cô ạ. Sau trận ấy cả tiểu đội tôi được Bác Hồ tặng cho Huy hiệu “Chiến sỹ giỏi”. Huy hiệu đó đây này.

Ông lấy một loạt huân, huy chương trong chiếc tủ tuông ra và chỉ tay vào chiếc huy hiệu ấy cho tôi xem. Ngoài chiếc huy hiệu ấy tôi còn thấy có rất nhiều huân, huy chương khác nữa, gần chục cái liền. Lúc này tôi mới nhìn thấy trong tủ còn có một tấm ảnh khá to chụp các chiến sĩ Điện Biên hôm gặp mặt nhân kỷ niệm năm năm thành lập Ban liên lạc chiến sỹ Điện Biên do thành phố Yên Bái tổ chức. Thấy tôi chăm chú quan sát tấm ảnh ông nói:

- Đây là ảnh chụp năm 2008, bây giờ đã có bốn ông mất rồi. Còn mấy ông nữa cũng đang nằm liệt giường. Chắc gì dăm năm nữa các cô còn gặp lại lớp người như chúng tôi.

Nói rồi ông im lặng, một nỗi buồn thoáng qua trên gương mặt ông. Tôi hiểu tâm tư của ông lúc này. Tôi im lặng, đưa mắt nhìn lên bức tường trước mặt, ở đó có treo một Huy chương “Vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc” do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tặng năm 2005 cho ông vì đã có cống hiến xuất sắc trong sự nghiệp đoàn kết dân tộc. Thấy không khí có vẻ chùng xuống, tôi gợi chuyện:

- Được biết sau khi nghỉ hưu ông đã tham gia công tác địa phương mười sáu năm liền?

- Đúng đấy cô ạ! Mười sáu năm ấy lúc thì tôi làm Tổ trưởng nhân dân, lúc thì làm Trưởng phố, có lúc lại làm Trưởng ban Mặt trận Tổ quốc phường. Giờ thì tôi nghỉ rồi. Do tuổi cao nên tôi để cho lớp trẻ nó làm, với lại nghi ở nhà để tôi chăm sóc cho đàn ong tốt hơn. Năm ngoái sau vụ rét đậm rét hại ấy chúng chết gần hết, tôi chỉ còn có năm đõ. Giờ gây mãi mới được mười tám đõ cô ạ.

Tôi chợt nhớ ra đã có lần báo Yên Bái viết về ông - Một thương binh nuôi ong làm kinh tế giỏi. Ông dẫn tôi ra sau nhà xem ong. Nhìn ông nhấc từng cầu ong hình chữ nhật dày đặc ong lên nhẹ nhàng, khéo léo đến mức cả đàn ong không hề hay biết gì. Ông nói:

Cô thấy không, chúng đông lắm rồi, tôi phải tự tạo nhũng mũ ong chúa này rồi sẽ gắp nhũng ấu trùng chúa vào đó cho ong thợ nuôi để khi nó trở thành ong chúa tôi sẽ bắt nó sang đõ mới và chia đàn.

Theo tay ông chỉ tôi thấy có khoảng sáu cái mũ màu vàng tươi, nhỏ bằng đầu ngón tay út, rỗng ở giữa, đã được ông gắn lên một khung gỗ hình chữ nhật. Tôi hỏi:

- Bằng cách nào mà ông làm được nhũng chiếc mũ nhỏ xíu này?

- Tôi phải làm một cái khuôn để đúc cô ạ. Làm việc này cần phải có sự tỉ mỉ. Nếu làm không giống mũ ong chúa thật thì coi như là công toi. Cả buổi sáng hôm qua tôi mới làm được sáu cái đấy.

- Thế là cả buổi hôm qua ông đã làm việc thay đàn ong. Có thể nói rằng ông là một “con ong” lớn nhất thế giới đấy nhỉ. - Tôi đùa vui.

Ông cười thành tiếng, khuôn mặt ông khi cười trông thật rạng rỡ. Nhìn nhũng bông hoa nắng lấp lánh xuyên qua từ kẽ lá trong vườn nhảy múa trên áo người cựu binh già, bỗng dưng tôi thầm cầu mong hình ảnh của ông mãi đẹp như thế này với thời gian để lớp hậu sinh như chúng tôi luôn có một điểm tựa tinh thần khi muốn tìm về quá khứ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn