Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Vẹn nguyên ký ức

Ninh Bình18/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

hiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” là mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. 70 năm trôi qua, Điện Biên Phủ vẫn vẹn nguyên trong ký ức của mỗi một chiến sĩ Điện Biên…Tranh Panorama Chiến dịch Điện Biên Phủ.Tranh Panorama Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh: Trịnh Xuân Tư

“Đó là khoảng thời gian đáng sống, đáng cống hiến nhất”

Lần theo số điện thoại để liên hệ với nhân vật, bên kia vang lên giọng nói trầm ấm, mạch lạc khiến chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi biết ông đã gần 100 tuổi. Người lính ấy là Lê Ngọc Lưu (SN 1925) trú tại tổ tự quản Cầu Roòng, xã Hồng Hóa (Minh Hóa).

Giữa tiết trời tháng 4 nắng như đổ lửa, người chiến sĩ Điện Biên năm nào vẫn nghiêm trang khoác lên mình bộ quân phục và tiếp chuyện chúng tôi trong căn nhà nhỏ. Quãng thời gian 70 năm, bằng cả một đời người đủ để xóa nhòa ít nhiều những ký ức chiến trận nhưng với ông Lưu đó là khoảng thời gian đáng sống, đáng cống hiến nhất. Những câu chuyện được ông kể lại về một thời hoa lửa, một thời hào hùng có những quãng ngắt, nghẹn lại bởi sự hy sinh của những người đồng chí, đồng đội chung chiến hào.

Ông Lưu quê ở xã Triêu Dương, huyện Tĩnh Gia (nay là xã Phú Lâm, huyện Nghi Sơn, Thanh Hóa). Năm 1946, ông rời quê nghèo tham gia bộ đội chống Pháp ở Tiểu đoàn 34 Tây Bắc, thuộc Đại đoàn 304. Sau nhiều lần chuyển đơn vị, cuối năm 1953, đơn vị ông được điều động tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiệm vụ của đơn vị là tập kết, chuẩn bị lương thực, thực phẩm ở Thanh Hóa sau đó hành quân hướng về Điện Biên. Ông Lưu nhớ lại, đơn vị hành quân bộ hơn một tháng mới tới được điểm tập kết và chủ yếu đi vào ban đêm, bí mật tuyệt đối để che mắt thám báo, biệt kích của địch.Chiến sĩ Điện Biên Lê Ngọc Lưu và người vợ thủy chung.Chiến sĩ Điện Biên Lê Ngọc Lưu và người vợ thủy chung.Đầu năm 1954, đơn vị ông tham gia kéo pháo vào chiến trường. Những khẩu pháo nặng vài tấn được kéo bằng sức người vào trận địa. Gian khổ là vậy nhưng ai cũng quật cường với niềm tin tất thắng. Cuối tháng 1/1954, khi các trận địa pháo hướng về lòng chảo Điện Biên đã sẵn sàng nhả đạn thì bất ngờ nhận được lệnh kéo pháo ra để bố trí lại trận địa.

Ông kể lại, thời điểm nhận lệnh kéo pháo ra nhiều người lính cũng rất tâm tư nhưng khi vào trận và giành thắng lợi sau này, ông mới hiểu rõ. Nếu cứ để nguyên vị trí trận địa pháo như lúc đầu thì rất dễ bị động bởi hỏa lực mạnh hơn nhiều lần của đối phương và bộ đội sẽ vấp phải tổn thất lớn...

Nhắc đến sự hy sinh của đồng đội, giọng người lính già như nghẹn lại. 70 năm trôi qua, ông vẫn nhớ rõ những cái tên của đồng đội từng sát cánh bên chiến hào. Lần giở tấm ảnh chụp chung những chiến sĩ Điện Biên trong lần dự lễ kỷ niệm mấy năm trước, giọng ông như thắt lại, bởi gần như những gương mặt ấy đã lùi vào lịch sử theo thời gian.

Chia tay với chúng tôi, ông Lê Ngọc Lưu khoe tấm giấy mời dự lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ do Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tổ chức tại Thủ đô Hà Nội. Ông chia sẻ: “Tôi rất xúc động khi nhận được giấy mời. Dù sức khỏe không còn “dồi dào” nhưng với niềm tự hào của người lính Điện Biên, tôi quyết tâm đi dự lễ lần này để gặp lại đồng đội và ôn lại kỷ niệm hào hùng của thời trai trẻ. Bởi, đồng đội của tôi-những người lính đã làm nên “trận chiến thế kỷ” mang tên Điện Biên Phủ ngày càng ít dần theo năm tháng...” .

X.Phú

Kết nạp Đảng trước “thềm” Chiến dịch Điện Biên Phủ

Được đứng trong hàng ngũ của Đảng là mong mỏi và vinh dự của rất nhiều người, nhất là với những người chiến sĩ đang trực tiếp cầm súng chiến đấu trên chiến trường. Cựu chiến binh (CCB), thương binh Đỗ Như Quán (SN 1934) là một trong những người có được vinh dự lớn lao đó. Ông được kết nạp Đảng ngay trong lòng một hố bom ở chiến hào trước những ngày diễn ra Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Trong những ngày cả nước hướng về kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng tôi tìm đến căn nhà nhỏ của CCB Đỗ Như Quán ở thôn Trung Vũ, xã Cảnh Dương (Quảng Trạch). Ở tuổi 90, sức khỏe và trí nhớ đã giảm sút, đôi mắt do bị thương đã không còn nhìn thấy gì nữa, nhưng khi chúng tôi nhắc đến Chiến dịch Điện Biên Phủ, những ký ức về năm tháng “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” lại lần lượt hiện về trong tâm trí của người lính già.

Ông Đỗ Như Quán sinh ra trong một gia đình ngư dân ở làng biển Cảnh Dương anh hùng. Năm 1947, lúc mới 13 tuổi, ông theo anh trai rời làng vào học ở Sở quân giới Liên khu 4 và hai năm sau được vào Trường thiếu sinh quân Liên khu 4. Năm 18 tuổi, ông Đỗ Như Quán nhập ngũ vào Trung đoàn 44.

Cựu chiến binh, thương binh Đỗ Như Quán chia sẻ phóng viên về những kỷ niệm đáng tự hào khi ông tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.Cựu chiến binh, thương binh Đỗ Như Quán chia sẻ với phóng viên về những kỷ niệm đáng tự hào khi ông tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.Tháng 10/1952, ông được biên chế về Đại đội 1480, Tiểu đoàn 439­, Trung đoàn 98, Đại đoàn 316, lần lượt tham gia các Chiến dịch Tây Bắc; Thượng Lào; giải phóng thị xã Lai Châu và truy kích địch lên Mường Tè. Trong trận Pu Nậm Hỏn (tỉnh Lai Châu) ông bị thương lần thứ nhất. May mắn vết thương chỉ ở phần mềm nên sau phẫu thuật, ông nhanh chóng bình phục.

Trở lại đơn vị, ông tham gia nhiều trận đánh trước khi diễn ra Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trận đánh đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông là trận tập kích vào phía đông Điện Biên. Sau trận đánh này, ngày 9/2/1954, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Lễ kết nạp được Chi bộ Đại đội 1480 tổ chức trong lòng một hố bom do máy bay địch vừa ném xuống dãy núi Pú Hồng Mèo.

Ngày 13/3/1954, Quân đội ta nổ phát súng đầu tiên vào tập đoàn cứ điểm quân địch, mở màn 56 ngày đêm của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sáng 2/5/1954, trong khi cùng đơn vị tiến đánh đồi C2, ông Quán đã bị thương lần thứ 2. Đó là vết thương khá nặng, đặc biệt là đôi mắt do trúng phải đạn pháo của địch...

Sau thời gian điều trị, đầu năm 1956 ông được chuyển ngành, đi học và kết hợp điều trị mắt. Năm 1980, tức là sau hơn 25 năm kể từ ngày bị thương lần thứ 2 ở Điện Biên Phủ, ông nghỉ hưu, về sinh sống ở quê hương. Do vết thương ngày càng nặng, năm 1993, đôi mắt bị mờ hẳn, ông được giám định lại thương tật và xếp hạng thương binh 1/4.

Mặc dù điều kiện đi lại, sinh hoạt khó khăn nhưng ông luôn tích cực động viên gia đình, con cháu học tập, lao động, xứng đáng với truyền thống của gia đình, quê hương. Ông Đỗ Như Quán có 5 người con, tất cả đều học hành thành đạt.

Những năm trước đây, khi sức khỏe còn tốt, những dịp kỷ niệm ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ, ông Đỗ Như Quán thường được Hội CCB xã Cảnh Dương mời đi nói chuyện “Hồi ức Điện Biên” tại các trường, lớp bồi dưỡng hay hội nghị... Những lúc như vậy, chiếc huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” sáng ngời vẫn luôn được ông đeo bên ngực trái bộ quân phục. Với ông, đó là “báu vật” đáng tự hào của những năm tháng tuổi trẻ hào hùng nhất trên chiến trường Điện Biên Phủ.

Phan Phương

Băng qua lửa đạn tiếp tế cho đồng đội

Chúng tôi tìm gặp cựu chiến binh (CCB) Đỗ Xuân Tịch, ở thị trấn Nông trường Việt Trung (Bố Trạch) vào một ngày cuối tháng 4, khi cả nước hướng đến kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm nay, CCB Đỗ Xuân Tịch đã 102 tuổi nhưng vẫn rất minh mẫn và mạnh khỏe.

Trò chuyện với chúng tôi, khi nhắc đến Chiến dịch Điện Biên Phủ, người CCB như được trở về thời trai trẻ, oanh liệt đầy tự hào. CCB Đỗ Xuân Tịch kể rằng, quê ông ở xã Hà Thành, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Ở địa phương, ông tham gia lực lượng dân quân tự vệ của xã. Năm 1953, khi chiến tranh ác liệt, ông Đỗ Xuân Tịch đã viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ.

Ông được biên chế vào Đại đội 834, Tiểu đoàn 396, Trung đoàn pháo cao xạ 367, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tiểu đoàn của ông có nhiệm vụ khống chế vùng trời phía đông-nam, tiêu diệt, không cho máy bay địch oanh tạc và thả dù tiếp tế cho quân lính của Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ. Tại đây, ông được phân công nhiệm vụ làm anh nuôi, chuyên lo lương thực, nước uống cho đồng đội.

Nhiệm vụ của anh nuôi thực sự rất khó khăn khi mọi thứ đều khan hiếm nhưng vẫn phải luôn bảo đảm bữa ăn hàng ngày. Ông phải vào rừng tìm bắp chuối, rau tàu bay… để nấu ăn cho đơn vị. Tuy nhiên, khó khăn nhất vẫn là việc tiếp nước uống cho đồng đội trong chiến đấu.

Cựu chiến binh Đỗ Xuân Tịch kể lại kỷ niệm Chiến dịch Điện Biên Phủ cho các con.Cựu chiến binh Đỗ Xuân Tịch kể lại kỷ niệm Chiến dịch Điện Biên Phủ cho các con.

CCB Đỗ Xuân Tịch nhớ lại: “Khi chiến đấu trong môi trường khắc nghiệt, người lính rất dễ bị mất sức, do đó việc tiếp nước uống là rất quan trọng. Bởi thế, giữa lúc bom đạn xối xả, bất chấp nguy hiểm, chúng tôi vẫn tìm cách để tiếp cận đưa nước cho đồng đội. Sau mỗi trận đánh, đồng đội lập được chiến công là cả đơn vị quên hết mệt nhọc, nguy hiểm; cùng xốc lại tinh thần để chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo”.

Với những nỗ lực, quyết tâm của tất cả cán bộ, chiến sĩ, đơn vị của ông đã lập nhiều thành tích, và được cấp trên khen thưởng. Bản thân ông Đỗ Xuân Tịch cũng vinh dự nhận nhiều huân chương, huy chương các hạng…

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, ông Đỗ Xuân Tịch được điều động vào tỉnh Quảng Bình, là nông binh tham gia làm kinh tế mới ở thị trấn Nông trường Việt Trung (Bố Trạch). Ông đã cùng cán bộ, nhân dân thị trấn khai hoang phục hóa, trồng những cánh đồng cao su xanh bạt ngàn, trù phú. Khi nghỉ hưu, CCB Đỗ Xuân Tịch vẫn rất tích cực tham gia các hoạt động, phong trào của địa phương.

Chủ tịch Hội CCB thị trấn Nông trường Việt Trung Nguyễn Văn Bình cho biết: “Ngay khi thành lập Hội CCB thị trấn vào năm 1990, ông Đỗ Xuân Tịch là một trong những thành viên đầu tiên tham gia hội; luôn tích cực, nhiệt tình, gương mẫu trong việc thực hiện các phong trào, hoạt động của hội và địa phương. Hiện nay, mặc dù tuổi cao sức yếu, không thể tham gia các hoạt động nhưng CCB Đỗ Xuân Tịch vẫn luôn giáo dục con cháu về truyền thống của gia đình, không ngừng học tập, lao động và cống hiến để xây dựng quê hương”.

Lê Mai

Mãi là niềm tự hào...

Trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ nép mình bên cửa biển Nhật Lệ (số 105 Dương Văn An, phường Đồng Hải, TP. Đồng Hới), chiến sĩ Điện Biên Lê Văn Sâm (SN 1930, quê ở Phú Vang, Thừa Thiên-Huế) đang được con cháu chăm sóc đặc biệt. Ông nay sức khỏe không được tốt, mọi điều có thể lúc nhớ, lúc quên, nhưng khi nhắc đến Chiến thắng Điện Biên Phủ, đôi mắt ông ánh lên niềm tự hào, xúc động...

Sơ yếu lý lịch đảng viên của người chiến sĩ Điện Biên Lê Văn Sâm ghi: Ngày vào Đảng chính thức 29/9/1960. Tham gia cách mạng từ tháng 1/1950. Năm 1954, tham gia chiến đấu tại Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau đó, được điều động trở lại miền Trung và công tác tại Đồn Công an giới tuyến Hiền Lương…

Năm 1960, được chuyển ngành, làm công nhân tại Ty Công nghiệp Quảng Bình. Năm 1968, được nghỉ chế độ hưu trí do đau ốm nặng (sốt rét kinh niên), mất sức lao động. Trong suốt quá trình tham gia cách mạng, luôn nỗ lực phấn đấu không ngừng, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, đường lối của Đảng và Chính phủ; đoàn kết và đấu tranh thẳng thắn trong nội bộ.

Hai cha con ông Lê Văn Sâm chuyện trò và hát cho nhau nghe mỗi ngày.Hai cha con ông Lê Văn Sâm chuyện trò và hát cho nhau nghe mỗi ngày.

Trở về cuộc sống đời thường, ông Sâm xây dựng gia đình với bà Võ Thị Cầm (SN 1940, công nhân tại Ty Kiến trúc Quảng Bình). Hiện, 4 người con của ông bà đều đã trưởng thành yên bề gia thất và có 8 cháu nội, ngoại. Ông cũng có 3 người con từng nối gót cha tham gia Quân đội.

An nhiên ở tuổi trên 90, ông bà có cuộc sống đầy đủ, hiếu thuận của các con cháu. Hiện, ông bà được vợ chồng người con trai thứ hai Lê Duy Hải (SN 1966) chăm sóc chu đáo mỗi ngày.

“Kỷ niệm của cha tôi về Điện Biên như một kho báu. Khi còn khỏe, ông thường kể cho chúng tôi nghe ngày tháng gian khổ ác liệt, hào hùng đó. Mỗi lần có khách ghé thăm, ông cũng tự hào ôn lại kỷ niệm Điện Biên... Có một điều mà tất thảy anh, chị em chúng tôi đều thuộc làu và in sâu trong trí nhớ là bài hát “Hò kéo pháo” mà cha tôi thường hát ru, dỗ dành chúng tôi lớn lên cùng năm tháng. Khi cha tôi cất lên tiếng hát với những ca từ dứt khoát, hùng hồn, bao hiểm nguy, gian nan vất vả, tấm gương hy sinh anh dũng của bộ đội ta ngày đêm kéo pháo vượt núi, vượt đèo trong Chiến dịch Điện Biên Phủ hiện lên, ghi dấu ấn trong tâm khảm tuổi thơ tôi đến tận bây giờ... Hò dô ta nào, kéo pháo ta vượt qua đèo/... Dốc núi cao cao nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi/Vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù…”, anh Hải vừa kể, tay vừa chăm sóc và hát cho cha của mình nghe.

Tuy cơ thể đã rất yếu, nhưng khi trò chuyện, hỏi ông có muốn đến thăm chiến trường xưa Điện Biên nhân dịp kỷ niệm 70 năm chiến thắng không, CCB Lê Văn Sâm ngân ngấn nước mắt, gật đầu đồng ý.

Công tác nhiều đơn vị, vợ chồng ông Sâm cũng nhiều lần di chuyển chỗ ở, nhưng những kỷ vật dù đã nhuốm màu thời gian được ông trân quý và cất giữ cẩn thận; trong đó có các phần thưởng cao quý do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tặng, như: Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Ba... và nhiều giấy khen, bằng khen của các đơn vị quân đội, cơ quan nơi làm việc.

“Ông Lê Văn Sâm là tấm gương mẫu mực về sự trung thành với Đảng, chấp hành nghiêm túc chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương nơi cư trú, hết lòng yêu thương vợ con, sống hòa đồng và trách nhiệm với bà con lối phố…”, Chủ tịch UBND phường Đồng Hải Nguyễn Hữu Thuyết khẳng định thêm.

Hương Trà

“Được góp mặt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ là niềm vinh dự”

Trong căn nhà nhỏ ở thôn Áng Sơn, xã Vạn Ninh (Quảng Ninh), cựu chiến binh (CCB) Phạm Tinh Vi vẫn luôn dành một vị trí trang trọng để treo tấm bằng khen gắn liền với những cống hiến của ông trong những năm tháng khói lửa chiến tranh. Và kỷ vật được ông giữ gìn cẩn thận gần 70 năm qua là chiếc huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ”. Với ông, được góp mặt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử là niềm vinh dự, tự hào.

Ông Vi kể, ông xung phong nhập ngũ khi vừa tròn 20 tuổi. Sau đó, ông được điều động ra Bắc làm nhiệm vụ vận tải, mở đường. Cuối năm 1953, đại đội của ông xuất phát từ Thanh Hóa hành quân lên biên giới nhận vũ khí để mở đường từ biên giới về Tuần Giáo (Điện Biên).

Ông cùng đồng đội và lực lượng dân công hỏa tuyến xuyên rừng mở đường mặc mưa bom, bão đạn của thực dân Pháp. Từ những bụi rậm, cây cối chằng chịt được khai phá thành đường, những con đường nhỏ xuyên rừng được khai thông, nối thẳng ra tuyến đường chính. Dưới bàn tay của chiến sĩ công binh, từ những con đường bị máy bay địch cày nát, nhanh chóng trở thành đường mới, bảo đảm vận tải thông suốt vũ khí, lương thực, thực phẩm phục vụ

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn