Anh hùng Lực lượng vũ trang

Vết Sẹo Dưới Đáy Xuồng Ba Lá

Trận nhớ đời nhất là năm Mậu Thân. Đêm đó, ông chở hai đồng chí thương binh nặng luồn qua đồn địch. Đang đi giữa dòng thì pháo sáng bắn lên đỏ rực cả một khúc sông. Không thể quay đầu, cũng chẳng có chỗ lẩn trốn, ông Tư lập tức dìm xuồng. Ông kéo hai đồng chí thương binh hụp xuống bưng biền, lấy bèo tây và mấy nhánh điên điển đội lên đầu ngụy trang. Nước lạnh buốt thấu xương. Tàu tuần tiễu của địch rọi đèn pha quét sát mặt nước. Có lúc chân vịt của tàu địch xé sóng lướt qua cách chỗ ông hụp lặn

An Giang14/04/2026Đoàn xã phú Tân (Đoàn xã phú Tân)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vết Sẹo Dưới Đáy Xuồng Ba Lá

Lịch sử quê tôi không chỉ được ghi bằng những trận càn rợp trời pháo sáng, mà còn được khắc dưới mạn chiếc xuồng ba lá lùi lũi trong đêm mù sương. Người ta hay kể về những chiến công vang dội của các vị tướng, còn tôi, tôi muốn kể về ông Tư - một cựu giao liên tuyến đường thủy, người cõng trên lưng cả những chuyến đò sinh tử mịt mùng.

Ông Tư giờ đã còng lưng, ngày ngày ngồi bện chổi cọng dừa bên hiên nhà. Trông ông hiền khô như bao lão nông miệt vườn khác, chẳng ai ngờ đôi bàn tay gân guốc, móng chân phèn ố vàng kia từng chèo nhịp thèo lèo lách qua hàng ngàn họng súng gác ráo riết dọc kênh Vĩnh Tế. Hồi đó, nhiệm vụ của ông là đưa rước cán bộ và tài liệu từ bên này sông sang bên kia cứ, thường là vào những đêm trời tối đen như mực, lúc gió chướng thổi rát mặt.

Ông Tư kể, làm giao liên đường thủy khổ nhất không phải là sợ chết, mà là sợ tiếng động. Giữa mùa nước nổi, bốn bề lênh đênh, tiếng dầm khua nước dù nhỏ mọn nhất cũng vang xa cả dặm. Mạng sống của cán bộ nằm trọn ở mũi dầm của ông. Để giấu tiếng nước, ông Tư không chèo, mà dùng một cây sào dài bằng tre đực, cắm ngập xuống bùn rồi dùng vai tì vào vác mà đẩy xuồng đi. Mái chèo có thể khua, nhưng mũi sào cắm xuống bùn thì câm lặng. Có những đêm nước ròng, sình lún ngang bụng, ông nhảy xuống bùn, gồng mình đẩy chiếc xuồng ba lá nhích từng tấc một qua bãi lầy để tránh tai mắt tụi biệt kích đang xăm sùng sục trên bờ.

Trận nhớ đời nhất là năm Mậu Thân. Đêm đó, ông chở hai đồng chí thương binh nặng luồn qua đồn địch. Đang đi giữa dòng thì pháo sáng bắn lên đỏ rực cả một khúc sông. Không thể quay đầu, cũng chẳng có chỗ lẩn trốn, ông Tư lập tức dìm xuồng. Ông kéo hai đồng chí thương binh hụp xuống bưng biền, lấy bèo tây và mấy nhánh điên điển đội lên đầu ngụy trang. Nước lạnh buốt thấu xương. Tàu tuần tiễu của địch rọi đèn pha quét sát mặt nước. Có lúc chân vịt của tàu địch xé sóng lướt qua cách chỗ ông hụp lặn chưa tới một sải tay. Mảnh đạn pháo văng trúng, xé toạc một đường dài dưới đáy xuồng, sượt qua bắp chân ông Tư ứa máu. Ông cắn chặt răng vào cọng bèo lục bình, nhịn thở đến lồng ngực muốn vỡ tung, mặc kệ máu tanh hòa vào nước phèn quánh đặc.

Đêm đó, hai đồng chí thương binh về cứ an toàn. Còn bắp chân ông Tư nằm lại với một vết sẹo chằng chịt, kéo dài như hình một con rết cháy đen.

Nhiều thập kỷ trôi qua, chiếc xuồng ba lá năm xưa giờ đã mục nát, chỉ còn giữ lại được tấm ván đáy có vết sẹo đạn xé được ông Tư dựng làm tấm vách chái bếp. Mỗi lần nhìn ngọn lửa bập bùng liếm qua vết cứa đen ngòm ấy, tôi lại thấy rùng mình.

Những nhân chứng lịch sử như ông Tư không mang huân chương trên ngực áo. Huân chương của ông là vết sẹo dưới đáy xuồng ba lá, là đôi mắt mờ đục vì những đêm chong thức giữa sương lạnh bưng biền. Lịch sử, đôi khi, được viết lên từ những con người bé nhỏ, chọn cách câm lặng chìm vào bùn lầy để giữ cho ngọn lửa độc lập trên bờ được cháy mãi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn