VẾT THƯƠNG CÒN NHỨC NHỐI
Đoạn hồi ký là lời tự sự đầy day dứt của một người lính xe tăng về ký ức chiến tranh và món nợ ân tình chưa trọn. Anh kể lại sự hy sinh của hai người bạn thân trong chiến dịch năm 1975, đặc biệt là lời trăng trối của Tuân trước lúc qua đời. Làm theo di nguyện bạn, anh mang bao gạo trở lại tìm gia đình người phụ nữ nghèo từng gặp năm xưa để chuộc lỗi, nhưng không thể tìm ra. Câu chuyện khép lại bằng nỗi ám ảnh, sự ăn năn và mong mỏi được tha thứ – một vết thương lòng mà chỉ thời gian mới phần nào
Cường tuổi Thìn - Nhâm Thìn - nam nay kể cả tuổi mụ là 42, thật đang sức tráng niên. Vậy mà những lúc có chuyện bực mình Cường lại hay nghĩ lẩn thẩn như một ông già, thường hay nhớ lại những kỷ mềm thời chống Mỹ mà anh có tham gia để tự an ủi. Ở một bến xe hay bến tàu vô tình bắt gặp đám lưu manh ức hiếp người nhà lành Cường cũng nắm tay trợn mắt mà lẩm bẩm: “Cứ như còn ở đơn vị xe tăng, ông sẽ nghiền nát bọn mày.” Anh hay kể với vợ và bạn bè những mẩu chuyện bắt đầu bằng câu: “Cái hồi ở bộ đội...” Nói chung là dường như Cường có máu AQ, một kiểu “phép thắng lợi tinh thần” đời mới.
Ở cái thị xã nhỏ bé này, Cường thuộc diện mất sức có phụ cấp thương binh hàng tháng, anh cũng có viết báo viết văn nhì nhằng, có đôi ba bài được để ý. Một lần chị cán bộ hội Phụ nữ phụ trách tuyên truyền vận động anh viết bài về vận động sinh đẻ có kế hoạnh anh liền lôi ngay hai đứa con gái mà nói: Cái hồi tôi ở bộ đội quen nói thẳng, tôi mới có hai cháu gái, tôi và vợ tôi sẽ chiến đấu tiếp cho đến khi nào được một thằng “tăng con” mới thôi. Vậy tôi có thể lên giọng đạo đức mà rao giảng “Mỗi gia đình chỉ nên có một hoặc hai con” không?
Chị phụ nữ vẫn cười và khuyên anh viết. Chị nói: “Viết là viết về một đạo lý chung, còn cuộc đời thiếu gì nỗi éo le riêng biệt, tôi biết anh viết được, vốn sống đã dày lại đã qua thời bộ đội. Nghe đến “cái thời bộ đội” Cường giật nảy mình” ứ nhỉ, cái thời tôi ở bộ đội . . . có cái chuyện này tôi kể cho chị nghe, chị hay ai đó viết giùm, cũng có tác dụng tới việc đặt vòng, à quên, xin lỗi là cái công tác chiến lược kế hoạch hóa gia đình.”.
Cường nói một mạch, và chị phụ nữ ngồi lắng nghe, chị biết là đã điểm đúng huyệt của anh chàng cựu binh hơi lẩn thẩn mà dễ mến. Trong phút chốc đôi mắt Cường dại đi như một thứ kỹ xảo mờ chồng trên phim truyện? và ký ức hiện lên, những hình ảnh xa xăm của một thời trận mạc bỗng hiện về rõ rệt, gồ ghề đầy màu sắc và hình khối như thể giơ ra là sờ nắn ngay được. . . .
Hồi -ấy, sau khi tham gia chiến dịch Quảng Trị, chiến dịch mà đơn vị tôi được cấp trên đánh giá là “tham gia 6 trận thắng 4 thua 2” chúng tôi rút về miền Bắc bổ sung, đóng ở vùng đồi thuộc xã Xuân Nguyên, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Có lẽ nhờ hai trận “lãi ròng” trên đây mà Đại đội một của chúng tôi và cả Tiểu đoàn 66 xe tăng thiết giáp đều trở thành đơn vị anh hùng. Nói thật với chị, làm lính cựu binh ở một đơn vị thường thì còn được chiều chuộng, thỉnh thoảng còn được thượng máu công thần - chứ ở đơn vị anh hùng thì chua cay lắm, mọi cái đều phải gương mẫu. Đất Xuân Nguyên thì rắn như đá. Có cậu đã viết:
Xuân Nguyên ơi ta đã về đây
Đất như đá nuôi cây sim cây sể
Nước xói mòn chia bãi thành mô
Lại viết:
Đời lính nghèo chi đến là nghèo
Không đủ tiền mua cho người yêu một hào kẹo bột
- Ấy sao chị lại nhíu mày thế, chị không muốn nghe thì thôi vậy . . . Ý tôi là . . .
- Không sao, không sao, anh cứ kể đi, tôi vẫn nghe đây tại tôi .
- Ấy là ý tôi muốn nói, cái hồi ở bộ đội, chuyện nó lâu quá rồi, bây giờ giở lại lục tích phải có đầu có cuối, phải có gợi lại cảm hứng, nhưng thôi, tôi vào chuyện ngay đây, một câu chuyện sát với đề tài đặt vòng, à lại quên, chiến lược dân số của chị. Lúc nãy tôi kể đến đâu rồi nhỉ, đến đoạn bộ đội đi xin tre chưa? Chưa hả, à đây rồi, đơn vị đóng ở Tĩnh Gia là đơn vị anh hùng v.v... đây chuyện đây rồi... Giọng Cường trầm xuống vẻ bí hiểm làm chị cán bộ phụ nữ cũng phải chùng người 1 nghiêng tai . . .
Đó là vào mùa giáp hạt năm 1974. Mùa giáp hạt là của nông dân, chúng tôi lại vào mùa huấn luyện. Hình - như không chỉ riêng gì Thanh Hóa mà cả miền Bắc đều bị đói. Dân đói, cán bộ đói, lính cũng đói. Tiêu chuẩn lương thực của tụi tôi từ 8 lạng tụt xuống 6,5 lạng rồi 4 lạng mỗi ngày. Mỗi buổi sáng cả bọn nhăn mặt nhận cái bánh mỳ hấp to bằng cái nắp chuông xe đạp. Ngày hai bữa cơm sau hai buổi huấn luyện lính hăng hái xếp sáu hàng dọc, hau háu nhìn vào nhà ăn, ăn xong chúng tôi lao xuống bếp vơ cháy, có bữa sợ heo trong chuồng mất phần, anh nuôi đổ nước gạo vào nồi cơm cháy.
Anh hùng thì anh hùng nhưng lính xe tăng mà đói thì gay quá. Một lần không biết ông trợ lý nào đó nảy ra “sáng kiến” quá quắt là cắt bữa ăn sáng để dồn cho hai bữa chính để cho lính đỡ đói sau giờ huấn luyện. Sáng hôm ấy khoảng 8 giờ, sau khi đánh xe ra bãi chuẩn bị tập, đại đội trưởng tập hợp 55 chiến sĩ lại và hô: Khoa mục! Tất cả đứng nghiêm lại chuẩn bị nghe nội dung khoa mục sắp tập bỗng nghe “uỵch” một cái. Cậu Tuân đứng cạnh tôi bỗng đổ nhào, sùi bọt mép. Cả đại đội nhốn nháo.
- Nghiêm! Đại đội trưởng hét, đồng chí Cường và đồng chí Huấn khẩn trương khiêng đồng chí Tuân về quân y cấp cứu.
Hô khẩu hiệu như thế nhưng chỉ nửa phút sau cả đại đội đều nghỉ để đưa Tuân về. Có cấp cứu gì đâu, chỉ đổ cháo vào là Tuân khỏi. Tội nghiệp nó, là lái xe người to con, nhiều tỷ tế bào phải nuôi quá. Tôi cũng là lái xe, người cũng to, cũng đói lắm . . . chúng tôi là cựu binh, đã qua chiến trường, đã có cái ranh ma của người từng trải qua trận mạc, phải nghĩ cách thoát khỏi cơn đói kinh niên này, chí ít cũng kéo tới mùa lúa chín. Rồi dịp may cũng đến. Đơn vị làm thêm “ga ra” xe cần một số vật liệu là tranh và tre.
Tranh thì phải đi cắt trên rừng. Tre thì vào xin đồng bào ở các xã lân cận. Không suy nghĩ lâu la gì, tôi xin ngay vào tổ xin tre. Lúc đầu không ai dám theo, cậu nào cũng ngán mục này. Riêng tôi mặt đã lỳ như thớt từ những ngày huấn luyện ở trường lái. Tôi rỉ tai thêm hai thằng bạn thân nửa, chúng khoái quá giơ tay luôn. Đó chính là Tuân biệt hiệu là Tuân vịt và thằng Hoán, tác giả của mấy câu thơ chị đã nghe ở trên.
Thế là cứ sáng sáng tổ tam tam chúng tôi sấn xuống bếp ép “thủ kho” xúc cho hai lon gạo đầy để ăn trưa với kế hoạch khoán hẳn ba lính sáu tre mỗi ngày. Cầm được hai lon gạo, ba chúng tôi lên đường vừa đi vừa đồng ca bài “Năm anh em trên một chiếc xe tăng, như năm bông hoa nở cùng một cội . Thỉnh thoảng gặp một gái làng xinh tươi, cái cậu Hoán lại hăng hái đọc thơ:
Tôi là người lính thiết binh cô ạ
Ba mươi ngày chỉ có năm đồng thôi
Thuốc bàn chải hết đồng rưỡi rồi
Cười làm chi cho thêm phiền tuổi trẻ
Thôi cô để tôi đi cô nhé
Một nụ cười hết cả nửa tháng lương.
Rồi cười rần rật với nhau.
Phải nói rằng việc xin tre với chúng tôi không khó nếu như trước đó một đơn vị bộ binh đóng ở phố Còng đã không “dợt” qua một lượt. Tuy nhiên được cái Hoán là tay vui vẻ văn thơ, tôi lại có ý chí, còn Tuân Vịt thì thuộc loại “thánh” trong khoản này. Đến nơi có tre, Tuân vịt cất mũ từ ngoài sân, hơi khom lưng tiến vào và hát điệp khúc sau đây:
Thưa cụ (hoặc bà, hoặc bác, hoặc chị . . . tùy lứa tuổi) sau chiến dịch đỏ lửa ở Quảng Trị, Lữ đoàn xe tăng 202 chúng con cần phải làm gấp một số nhà xe, cần một số vật liệu và là tranh và tre. Tổ tam tam chúng con đến đây trước hết là để thăm sức khỏe của cụ (bà, bác, chị) sau nữa là...”
Những lúc hát bài ca này tất cả sự ranh mãnh biến mất, khuôn mặt và sắc diện cậu Tuân trở nên dễ thương vô hạn. Khó có một trái tim sắt đá nào có thể từ chối nó. Được một tuần như vậy, ngày nào chúng tôi cũng được một bữa trưa lưng bụng và sáu cây tre vác về nộp. Thế rồi đi lâu cũng có ngày gặp. . . thủ trưởng.
Sáng hôm ấy, khi chuẩn bị đong gạo thì tay thủ kho giáp mặt đại đội trưởng, hắn đỏ tai cúi gằm mặt đổ vào đãy của tôi một lon gạo gạt ngang miệng lon rồi dùng tay bốc thêm nắm nữa coi như đủ khẩu phần ba đứa. Không cãi được chúng tôi đành lên đường. Thật “họa vô đơn chí” hôm ấy suốt cả buổi sáng ba đứa chúng tôi mới xin được một cây tre. Đã thất bại thì thường nản chí, chúng tôi không dám tìm vào nhà ngói sân gạch mà đi mãi đến gần 12 giờ trưa mới rẽ vào ngôi nhà tranh hơi có vẻ tồi tàn mượn xoong nồi nấu cơm.
Trong nhà tranh tối tranh sáng, một người đàn bà xanh xao đang nằm ở giường. Chị có vẻ lả lướt đói hơn là bệnh tật. Nghe chúng tôi trình bày, chị vội vàng ngồi dậy cao giọng gọi lên:
- Cái Thảo, cái Mẩy, cái Chót, Chít, Chát ơi! Về mẹ biểu?
Loáng cái có chừng một tiều đội con nít từ vườn sau chạy ra đứng trước mắt chúng tôi. Mắt đứa nào đứa nấy thao láo; Có đứa cầm quả cà pháo vừa hít mũi vừa nhai rồi phướn cổ nuốt.
Chị chủ nhà phán tiếp:
- Mấy đứa bây vô lấy nồi ra nấu cơm cho các chú bộ đội. Bầy trẻ a lên một tiếng táo tác chạy lấy nồi, đưa ra giếng múc nước sẵn. Không kịp suy nghĩ thêm, chúng tôi thở phào ném “bao gạo” ra sân cho lũ trẻ rồi ngồi nghỉ. Mãi nhiều năm về sau tôi mới phân tích được cái hoàn cảnh và tâm trạng lúc ấy của chị chủ nhà và bọn trẻ, tôi cứ bị ám ảnh mãi cái thoáng chốc bất chợt tia mắt của chúng sáng lên khi nghe mẹ nó phát âm ra từ “nấu cơm” nghe nghe như tiếng reo vui.
Quá 12 giờ trưa, mệt mỏi và đói meo, sau khi rửa ráy bằng nước giếng trong và mát, chúng tôi tự động lấy bát đũa từ trong chạn, gạt tro than trịnh trọng bơng nồi cơm lên. Lúc này lũ trẻ lại đứng túm tụm cuối sân nhìn theo nồi cơm. Chị chủ nhà mệt mỏi ngồi gian dưới. Gian dưới lại cách gian trên một lớp cót nan mỏng, nói thì nghe rõ nhưng không nhìn thấy nhau.
Chúng tôi mở vung cơm lên và ba cái đầu lập tức chụm vào như để ngửi mùi cơm. Sáu bàn tay quen cầm cần lái xe tăng bây giờ nắm chắc bát đũa. Bụng chúng tôi đều réo ùng ục, nhưng hạnh phúc thì đã ngay trước mặt trắng xóa, thơm lừng trong tầm tay. Thiếu chút nữa thì chúng tôi bỏng mồm vì cơm. Mỗi đứa đều vừa và cơm vừa phà hơi ra cho đỡ nóng, mắt long lanh vì sung sướng. Bỗng từ gian dưới vọng lên tiếng chị chủ nhà lúc này nghe rất rành rọt:
- Kìa các con, vào ăn cơm với các chú bộ đội cho vui. Chúng tôi ngớ người, ừ nhỉ, cũng phải xới cho trẻ con chứ. Cậu Hoán vốn nhanh mồm nhanh miệng nuốt ực miếng cơm rồi buột miệng:
- Các cháu ơi?
- Kìa các con, các chú đã mời thì vào ăn với các chú.
Tôi nhìn xuống xoong cơm, chỉ còn lưng hai bát nữa chưa kể phần cháy, mà hình như nồi cơm nhỏ chưa đủ độ nóng để kết cháy đâu. Ngoài sân thì lố nhố đến chục đứa con nít đang chuẩn bị kéo vào. Chúng tôi thì chưa hết hoa mắt vì đói. Bỗng Tuân, chính cái cậu Tuân vịt với điệp khúc xin tre muôn thùa đã giơ tay lên vẫy lũ trẻ. Hắn vẫy rất nhẹ nhưng lại nói rất to:
- Các - cháu - vào - đây - ăn - cơm - với - các - chú.
Tôi nhìn ra, lũ trẻ nháo nhác tiến vào mắt long lanh, trong khoảng khắc bỗng chúng đứng dừng cả lại ngơ ngác như một đàn gà con lạc mẹ. ánh mắt của chúng bị hút về phía Tuân. Bất ngờ tôi nhìn sang thấy cậu Tuân. Vâng, thưa chị, chính Tuân bạn tôi, một hạ sĩ lái xe tăng có hạng đã lập chiến công ở chiến trường - Quảng Trị, mắt hắn trợn ngược lên, bàn tay nắm thành quả đấm. Từ dưới bếp giọng chị chủ nhà như quát lên:
- Mấy cái Thảo, cái Thít dẫn em vào ăn cơm với các chú bộ đội, còn đứng đó chi nữa.
Một lần nữa lũ trẻ lại mạnh dạn bước vào nhưng vừa mới ngước lên đã bắt gặp ngay cặp mắt của Tuân. Tội nghiệp chúng, như thể nhìn thấy ông thiện ông ác trong chùa, tiến lên một bước rồi dừng lại. Sau phút bàng hoàng, tôi cố tĩnh trí lại nhìn kỹ lũ trẻ. Chúng có vẻ xác xơ quá ốm nhách, ốm nheo như những cây sậy được treo móc vài mảnh vải mỏng màu đất. Một thằng cu chừng năm tuổi trần truồng, bụng ỏng đít beo một tay đút vào miệng, một tay nắm chặt gấu áo chị nó. Cái Thảo là con bé lớn nhất chừng 12 tuổi gầy tong teo, gương mặt đầy vẻ nhẫn nhục cam chịu nhăn nhúm như một bà già. Nó, chính là con bé chị lớn nhất đám cao chừng 1m25 nặng không tới 25kg này là tâm điểm chịu toàn bộ sức nặng từ những tiếng quát tháo của người mẹ, từ mùi cơm bay ra từ chỗ chúng tôi ngồi và đôi mắt trợn ngược của Tuân. Chừng 5 đến 6 phút, sau khi đã đứng sững lại, chính cái con bé lớn có tên Thảo này đã khóc òa lên, tức tưởi lùa lũ em ra vườn sau nhà. Tiếng nấc của người đàn bà khiến Cường dừng phắt câu chuyện.
- Đừng kể nữa, đừng kể nữa, tôi van anh, anh cũng có con mà tôi cũng có con mà anh.
Cường ngồi lặng đi một lúc rồi thì thào:
- Tôi đã nói trước ai bảo chị ép tôi. Chị biết không ngay sau đó thấy mình có lỗi, còn cái thằng Tuân lúc ấy thì lúng búng trong mồm chào chủ nhà và chúng tôi đã lặng lẽ rút khỏi căn nhà ấy, để lại cả cây tre còi mới xin được hồi sáng. Còn Tuân thì ân hận vì lối đùa tai quái và không đúng chỗ ấy. Tối hôm ấy, đại hội gọi cả ba chúng tôi lên chất vấn vì không hoàn thành nhiệm vụ. Tuân Vịt ngồi cúi gằm mặt xuống một lúc rồi chạy ra sau đồi khóc. Tôi kể sư qua cho đại đội trưởng nghe chuyện hôm ấy. Ông im lặng, mặt đanh lại. Hôm sau không thấy ông bảo chúng tôi đi xin tre nữa. Chuyện tôi kể có liên quan đến việc kế hoạch hóa gia đình, đẻ nhiều con mất mùa thì khổ. Chuyện thật 100% đấy, không tin thì chị gặp các cậu Hoán, Tuân . . . à quên . . . xin lỗi.
Sao lại xin lỗi, anh quên cái gì, hai người bạn của anh ở đâu?
- Chị đã nghe đến đây thì tôi cũng xin kể hết. Hai người bạn chí thân ấy của tôi đều không còn nữa. Hoán, cái thằng vui tính hay làm thơ ấy hy sinh ngay trận mở màn trong chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, còn thằng Tuân thì mãi đến Xuân Lộc vào tới cửa ngõ Sài Gòn xe hắn mới trúng đạn bốc cháy. Hắn cùng pháo thủ bắn hết cơ số đạn trong xe rồi nhảy ra bị hỏng hết mặt mày, lại hứng luôn một tràng AR15 qụy xuống. Nhưng có điều lạ là nằm trong trạm giải phẫu tiền phương, cậu Tuân vịt ấy phều phào nhắn tôi đến.
Mặt trận tạm yên ổn tôi giấu xe vào bãi rồi băng đến trạm. Hắn nằm, mắt mờ dại đi. Tôi cúi xuống và chợt nhận ra cái mặt vàng ủng như sáp ong và đôi mắt lờ đờ của nó chợt sáng lên. Bằng rất nhiều cố gắng đến tuyệt vọng, hắn nhấc tay chỉ vào túi áo ngực và phều phào hai âm tiết gì đó nghe không rõ. Tôi mở túi áo quân phục xe tăng của hắn lôi ra một nắm tiền giơ lên, hắn lại phều phào hai từ gì đó, đôi mắt có vẻ bằng lòng rồi tắt thở. Tôi cầm nắm tiền đứng ngẩn ngơ quên cả vuốt mắt cho đồng đội Tuân vịt! Thế là tôi mất luôn người bạn tri kỷ cuối cùng. Chị có hiểu không?
Mãi đến gần một tháng sau, trong một đêm đang ngủ rất ngon mắt giữa đô thành Sài Gòn mới giải phóng tôi như bị dựng dậy bởi một ý nghĩ vừa lóe lên: “tiềm thức và vô thức vừa hòa nhập giải mã cho tôi hai cái từ vô nghĩa phều phào giữa hai làn môi đã cứng lại của Tuân.
Ngày ra Bắc, tôi theo lời trăng trối của Tuân, tôi mua một bao gạo trắng muốt loại tốt nhất của Nam Bộ vác về để chình ình trên xe làm mọi người cười ầm bảo tôi hâm tỷ độ. Ngày đó, vâng, sau chiến thắng ngày 30-4-75, mọi người về quê, ai cũng đem theo bao thứ làm quà, còn tôi thì đèo bao gạo, có lẽ hâm thật chăng?! Tôi nín nhịn. Đi ba ngày từ Sài Gòn đến Thanh Hóa, ngang qua phố Còng tôi lẳng lặng ném bao gạo xuống rồi nhảy xuống theo; lúc ấy mới hiểu là không còn nhớ đi về hướng nào.
- Anh không nhớ à?
- Không nhớ! Chị bảo làm sao tôi nhớ được một căn nhà tồi tàn vô tình ghé qua rồi ngậm tăm rút biến trong cả chục ngày đi xin tre lang thang khắp huyện Tĩnh Gia. Tôi ngồi trên bao gạo gần nửa buổi mới biết: mình bất lực hoàn toàn trong lúc các bà buôn thúng bán mẹt cứ xoắn suýt xung quanh đòi mua. Chao ôi! ước gì trong đám các bà các chị ấy hiện ra khuôn mặt xanh xao lả lướt ốm o của người đàn bà và lũ trẻ ấy- Chính hôm ấy tôi đã ngầm thề với thằng Tuân sẽ giữ kín chuyện này mãi mãi. Vậy mà hôm nay tôi lại kể cho chị nghe, thế là tôi đã xóa đi lời thề đồng đội, cũng bởi nhiều chục năm trôi qua rồi, tôi đã đủ sức giở áo lên nhìn lại vết thương lòng. Đôi khi thời gian cũng là một vị thuốc phải không chị. Vả chăng tôi cũng mong câu chuyện này được viết lên mặt báo như thể một kiểu nhắn tin, một lời cáo lỗi may ra nó đến tay được những đứa em năm xưa không biết bây giờ đã trưởng thành? Chúng nó đọc và có thể tha thứ cho chúng tôi được chút ít nào chăng?



