VẾT THƯƠNG THỜI HẬU CHIẾN: CỰU BINH TRẦN VĂN TÝ
VẾT THƯƠNG THỜI HẬU CHIẾN: CỰU BINH TRẦN VĂN TÝ
Câu chuyện cuối cùng này tôi muốn kể không phải từ một chiến hào sặc sụa mùi thuốc súng, mà từ một căn nhà nhỏ lộng gió ở xã Nghĩa Bình, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. Tôi là Trần Văn Tý, sinh năm 1957. Tôi là một thương binh, một người phục viên trở về từ mặt trận rực lửa của Đại đội 4, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 9, Sư đoàn 339, Quân khu 4 (C4 d4 E9 F339 QK 4). Chiến tranh dẫu đã lùi xa, súng đạn đã im tiếng trên các giảng đường biên giới, nhưng cuộc chiến trong cơ thể tôi thì chưa bao giờ chấm dứt. Tôi ngã xuống vào ngày 16 tháng 02 năm 1984 – mười năm sau ngày tôi bước ra khỏi khói lửa chiến trường.
Người ta thường nghĩ hy sinh là phải ngã xuống ngay trên trận địa. Nhưng có một kiểu hy sinh tàn nhẫn và âm thầm khác: Đó là sự gặm nhấm từng ngày của những vết thương thời hậu chiến. Trở về quê hương Nghĩa Bình với một cơ thể mang đầy mảnh đạn găm sâu vào da thịt và những cơn sốt rét rừng di chứng, tôi vẫn dùng một cánh tay còn lành lặn để cuốc đất trồng ngô, nuôi sống gia đình. Tôi không đòi hỏi huân chương, không oán trách số phận, tôi sống lặng lẽ như cọng cỏ trên đồi quê hương.
Nhưng ngày 16 tháng 02 năm 1984, sau một đêm dài chống chọi với cơn đau thắt nghẹn ở lồng ngực do mảnh đạn cối năm xưa di chuyển chèn ép vào tim, tôi đã trút hơi thở cuối cùng bên cạnh người vợ hiền và đứa con thơ chưa tròn tuổi tôi. Tôi ra đi khi tuổi đời vừa tròn hai mươi bảy.
Chi tiết biểu tượng lấy đi nước mắt của người dân quê tôi chính là chiếc áo lính phục viên bạc màu, sờn rách cả hai bên vai áo, vẫn được treo trang trọng nơi góc tường, trên túi ngực áo vẫn găm chặt tấm thẻ thương binh dính vệt mồ hôi chai sạn của những ngày lam lũ mưu sinh. Cái chết của tôi thời hậu chiến là nốt lặng đau đớn, một lời nhắc nhở đanh thép và đầy thuyết phục cho thế hệ hôm nay rằng: Hòa bình được xây dựng không chỉ bằng máu xương trên chiến trường, mà còn bằng cả những nỗi đau âm thầm kéo dài suốt một đời người của những người cựu binh dâng hiến vẹn tròn.



