Bài viết

Vị anh hùng Nguyễn Thái Học

Một trong các vị anh hùng tiêu biểu

Quảng Ngãi04/06/2026Vũ Đinh Khánh (Đoàn TNCS Xã Bờ Y)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những nguyên nhân nào đã dẫn tới các cuộc khởi nghĩa của Việt Nam quốc dân đảng nổ ra sớm trước khi chương trình hành động của đảng phải bước sang thời kỳ thứ ba, thời kỳ công khai, khởi nghĩa, đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền. Có thể thấy một số nguyên nhân dẫn tới cuộc Khởi nghĩa Yên Bái (ngoài nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa) là: Sự bất mãn về chính trị (như trong thư của Nguyễn Thái Học viết gửi cho Toàn quyền Đông Dương và Hạ nghị viện Pháp), và sự bần cùng hóa của người dân, còn có các hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Việc bắt người đi phu, mộ phu cho các đồn điền ở Nam Kỳ (nhất là đồn điền cao su), khi đi thì có khi về thì không, “khi đi trai tráng, khi về bủng beo”. “Kế đó lại xảy ra hai vụ mất mùa liên tiếp vào đúng lúc Đông Dương lâm vào tình trạng suy thoái lớn: Giá gạo xuống thấp, số nợ ở nông thôn ngày càng trở nên nghiêm trọng… Mặt khác, đồng bạc Đông Dương từ năm 1925 bị mất giá, do loại kim khí này liên tục bị mất giá… hậu quả là giá bán gạo trong nước giảm”[17], ngân sách Đông Dương ngày một phình to.

Cuối năm 1928, đầu năm 1929 Việt Nam Quốc dân đảng phát triển mạnh về số lượng và cơ sở đảng. Nhưng vì tổ chức không được chặt chẽ, bí mật, nên nhiều mật thám, chỉ điểm đã có thể lọt vào. Sở mật thám Pháp muốn ngăn chặn sự phát triển của Việt Nam Quốc dân đảng, nhưng lại không có bằng chứng buộc tội. Mâu thuẫn nội bộ, là một trong những nguyên nhân khiến cho Việt Nam Quốc dân đảng ở cấp lãnh đạo cũng không đoàn kết thống nhất với nhau: “Sự xung đột giữa hai khối lập pháp do Nguyễn Khắc Nhu; Nguyễn Thái Học đứng đầu và khối hành chính của Nguyễn Thế Nghiệp đã đưa Việt Nam Quốc dân đảng tới trước một đe dọa giết hại lẫn nhau”[18].

Tháng 2-1929, Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức ám sát tên trùm phu Bazin (Ba-danh) ở Hà Nội. “Bazin điều khiển tại Hà Nội một sở mộ phu Bắc Kỳ gởi đến các đồn điền ở miền Nam Đông Dương hay Nouvelle Calédonie. Buổi chiều Tết An Nam (9-2-1929), ông bị ám sát trên đường bởi nhiều phát súng sáu (súng lục 6,35mm) do một người bản xứ bắn… tiếng súng hòa lẫn tiếng pháo nổ mà người An Nam có tập tục đốt vào dịp lễ này[19]. Bazin bị ám sát khi vừa ở nhà nhân tình của ông là cô Germaine Carcelle, một đầm lai đứng bán hàng cho hãng buôn Gô đa ở số 110, phố Huế (phố Chợ Hôm). Thực hiện vụ ám sát là hai thanh niên bận màu xám, đầu trần, đứng chờ Bazin trước cửa. Một người tiến tới đưa cho ông một bức thư tuyên án tử hình… Bazin ngã lăn trên vũng máu, một hồi sau thì tắt thở[20].

Người ta cho rằng đây không phải là vụ giết người thông thường vì tiền bạc, vì ái tình, vì thù hằn cá nhân hay vì cạnh tranh việc làm ăn mà vì lý do chính trị. Thủ phạm là người bản xứ thuộc một tổ chức chính trị chống Pháp[21].

Nhân sự kiện này, thực dân Pháp tiến hành một cuộc khủng bố dã man, bởi chúng cũng nhân dịp này để đàn áp các đảng phái khác mà chúng thấy là nguy hiểm, không chỉ riêng Việt Nam Quốc dân đảng: “…bọn thực dân Pháp cũng khôn ngoan hơn. Mắc bệnh, chúng càng làm cho bệnh trầm trọng, càng khủng bố dân. Bắt bớ hàng loạt, án tử hình, giam cầm, tra tấn…[22]; “Trong một thời gian ngắn, hầu hết những đảng viên từ Trung ương đến các cấp địa phương đều bị bắt, hệ thống của đảng bị đứt đoạn. Một việc tình cờ là hai vị lãnh tụ của đảng là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu lúc ấy vắng mặt ở Hà Nội, đang đi kiểm soát tại các tỉnh nên được tin trốn thoát. Đứng trước sự cơ gấp rút, hai vị lãnh tụ vốn giàu tính chất bạo động, chỉ có một quan niệm rất đơn giản là: nếu cứ ngồi yên để cho quân địch bắt được rồi lên máy chém hay vào nhà tù kết liễu một đời hoạt động, chi bằng thừa lúc còn được tự do ở ngoài, dốc hết lực lượng còn lại để đánh một trận cuối cùng:Không thành công cũng thành nhân[23]. Tình hình chính trị, căng thẳng và ngột ngạt, đã dẫn đến những thiệt hại lớn cho những chính đảng cách mạng ở Việt Nam khi đó: “Năm 1929, đế quốc Pháp bắt đầu tiến công các tổ chức... Cuộc tấn công bắt đầu bằng khoảng 300 vụ bắt bớ ở Nam Kỳ để đàn áp nhóm Thanh Niên (tức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên). Tiếp đó là ở Bắc Kỳ có hơn 800 vụ bắt bớ. Hầu hết An Nam Quốc dân đảng bị lọt vào lưới[24].

Học giả người Pháp Patric Morlat trong cuốn Chính quyền và sự đàn áp ở Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa 1911-1940, đã viết: “Nhờ sự khám xét, cơ quan an ninh phát hiện ra nhiều chi bộ, trong đó có những chi bộ trong quân đội. Mục đích gây tổn hại đến nền an ninh bên trong của Nhà nước của Việt Nam Quốc dân đảng… Toàn quyền Pasquier gửi vụ việc lên Hội đồng Đề hình Bắc Kỳ…”[25]. Bị động trước tình thế đó, những nhà lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam Quốc dân đảng quyết định dốc hết lực lượng nhằm thực hiện cuộc bạo động cuối cùng để dù thất bại thì cũng thành danh nhân ở đời. Chứ không chịu khoanh tay chờ chết.

Những yếu nhân lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân đảng cùng các đồng sự đã tiến hành hội nghị đi đến chỗ quyết định tại hội nghị Lạc Đạo. Trong cuộc hội nghị này, có hai chủ trương khác nhau giữa những đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng còn sót lại. Phái bạo động mà đại biểu của nó là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu chủ trương phải khởi nghĩa ngay với những lý luận kể trên. Trái lại, phái cải tổ mà đại biểu là Lê Hữu Cảnh và Trần Văn Huân muốn dựa theo đường lối đã vạch ra từ trước và chủ trương tổ chức lại đảng, chưa nên bạo động. Kết quả là phái bạo động đã áp đảo được phái cải tổ. Và chủ trương bạo động đã được coi là quyết nghị của đảng. Phái bạo động dựa vào một số nhân sĩ, kỳ hào, phú nông ở các tỉnh trung du và hạ du, đặc biệt lấy các tỉnh Hải Dương, Kiến An, Phú Thọ và một số binh lính trong hàng ngũ Pháp như ở Yên Bái, Sơn Tây, Kiến An và Hải Phòng. Trái với dự định trước kia là cuộc tổng khởi nghĩa có tính chất toàn quốc, cuối cùng cuộc chuẩn bị khởi nghĩa chỉ còn hạn chế lại ở mấy địa bàn mà Việt Nam Quốc dân đảng còn có một phần nào thế lực.

Trong khi chuẩn bị khởi nghĩa đang gặp nhiều trở ngại thì tháng 9-1929, một sự kiện không may lại xảy ra tại Hội nghị Võng La với sự phản bội của Phạm Thành Dương, làm cho lực lượng khởi nghĩa bị tổn thương một lần nữa. Giới thống trị Pháp tung cảnh sát, mật thám và tay sai càng bủa lưới bao vây lùng bắt những người chủ trương bạo động, cố làm cho cuộc bạo động không thể nổ ra: “Các vụ “thanh toán” những thành phần phản bội và các tại nạn do việc chế tạo chất nổ đã báo động cảnh sát. Và những mẻ lưới lớn đã được giăng ra. Nhiều lãnh tụ cốt cán sa lưới, các bộ phận lãnh đạo bị phá hủy”[26].

Những vụ nổ do chế tạo bom của Việt Nam Quốc dân đảng cũng làm cho thực dân Pháp lần ra manh mối và nhiều vụ bị phát hiện. Theo tài liệu của Pháp cho biết: “Ngày 3-9 (1929) ba người chết trong căn nhà lá ở Mỹ Điền vì chế bom rồi bị nổ… Ngày 20-11, người ta khám phá được một trăm năm mươi quả bom ở một làng gần Bảy Chùa. Ngày 23-12 lại tìm thấy 150 quả bom nữa ở Nội Viên. Ngày 26, 290 quả ở Thái Hà. Ngày 10 tháng giêng, người ta đào được ở Bắc Ninh nhiều chum đựng truyền đơn cách mạng. Ngày 20, người ta bắt giữ một anh thợ rèn kiếm và những ngày sau còn bắt được rất nhiều bom, hàng trăm quả trong nhiều làng khác[27].

Những nhân vật trọng yếu còn lại trong phái bạo động thấy phải xúc tiến việc bạo động mặc dầu chuẩn bị chưa được đầy đủ. Đầu năm 1930, ngày định khởi nghĩa đã được đề ra. Theo sự phân công phụ trách khi ấy ông Nguyễn Thái Học sẽ nhận trách nhiệm chỉ huy những cuộc khởi nghĩa tại mấy tỉnh miền xuôi như Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Phả Lại... Còn Nguyễn Khắc Nhu “là người chỉ huy cuộc vũ trang khởi nghĩa ở khu Tây bắc Bắc bộ gồm các yếu điểm: Yên Bái, Hưng Hóa (Phú Thọ), Lâm Thao”[28]. Riêng Phó Đức Chính phụ trách đánh vào đồn Thông, một đại bản doanh quân sự của Pháp ở Sơn Tây.

Theo tài liệu của Sở mật thám Đông Dương viết: “Cuộc khởi nghĩa định vào ngày 10-2-1930. Kế hoạch tấn công như sau: Nguyễn Thế Nghiệp phải chiếm Lao Kay (Lào Cai). Nguyễn Khắc Nhu tức Xứ Nhu và Phó Đức Chính phải đánh Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao và Sơn Tây. Nguyễn Thái Học phải gây ra cuộc khởi nghĩa ở Bắc Ninh, Đáp Cầu, Hải Dương…[29].Mặc dù thực dân Pháp hết sức đề phòng, cuộc khởi nghĩa vẫn bùng nổ. Các cuộc Khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo nổ ra ở nhiều tỉnh ở Bắc Kỳ, tuy cuộc khởi nghĩa ở mỗi nơi diễn ra có sự khác nhau, có nơi khởi nghĩa không nổ ra được. Yên Bái là tỉnh diễn ra cuộc khởi nghĩa mạnh mẽ nhất, nên người ta thường hay gọi là Khởi nghĩa Yên Bái.

Trong lúc Việt Nam Quốc dân đảng chuẩn bị khởi nghĩa Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Xiêm (Thái Lan). Thấy cuộc khởi nghĩa nổ ra lúc này là quá sớm bởi những điều kiện để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa chưa được chuẩn bị đầy đủ và chu đáo, bởi vậy Người đã nhận định khởi nghĩa “khó thành công”. Người muốn “bàn lại kế hoạch” nhưng không thực hiện được. Trong lúc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị vượt biên giới Thái Lan đến Trung Quốc, cuộc bạo động đã được chuẩn bị và nổ ra[30].

Cuộc Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra vào lúc 1 giờ sáng ngày 10-2-1930[31]. Cùng đêm đó, khởi nghĩa nổ ra ở Phú Thọ, Sơn Tây; sau đó là ở Hải Dương, Thái Bình… Ở Hà Nội, cũng có đánh bom phối hợp. Cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái nổ ra lớn nhất, ở nhiều nơi Việt Nam Quốc dân đảng đã làm chủ được tình hình, tuy nhiên những vị trí quan trọng lại không chiếm được: “Sáng ngày 10-2-1930. Quân khởi nghĩa chủ yếu dựa vào binh lính khố đỏ, chiếm được đồn Thấp, diệt và làm bị thương hơn chục tên Pháp trong đó có tên quan ba Giuốc-đanh (Juordin), quan Hai Rô-be (Robert), viên quản Qui-nê-ô (Cunéo) và kho vũ khí, nhưng không chiếm được đồn Cao do tên quan tư Pháp chỉ huy, không chiếm được trại lính khố xanh và để tên Tuần phủ Yên Bái chạy thoát. Nhân dân thị xã Yên Bái bị bất ngờ không có hoạt động gì ủng hộ quân khởi nghĩa. Khi trời sáng quân Pháp từ đồn Cao phối hợp với đơn vị lính khố xanh phản công, quân khởi nghĩa tan rã. Thực dân Pháp ra sức truy lùng bắt toàn bộ những người lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng và những người tham gia cuộc khởi nghĩa”[32].

Miêu tả của Louis Roubaud trong cuốn Viet-nam la Tragédie Indo-chinoise (Việt Nam thảm kịch Đông Dương) cho thấy cuộc Khởi nghĩa Yên Bái chi tiết hơn với những sự kiện: “Trung úy Robert bị hạ sát ngay trên giường, trước mắt người vợ. Thượng sĩ Cunéo chết không kịp tự vệ, nhưng trung sĩ Chevalier và Damour không may mắn bằng Bouhier, chết không kịp trở tay. Những người khác, thượng sĩ Trotoux, trung sĩ nhất Deschamps, các trung sĩ Hurugen và Reynaud với bà Reynaud bị chặn lại ở trong phòng và họ kháng cự bằng súng máy cho đến sáng. Đại úy Jourdan, ở trong sân pháo đài hô lệnh tập hợp quân sĩ, lập tức bị một viên đạn chết ngay. Đại úy Gainza bị thương ở sườn[33].

Lực lượng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng đã chiếm được nhà dây thép, ngà ga, phát truyền đơn… Ngày hôm sau, thực dân Pháp đã phản công, cuộc bạo động bị thất bại... Nguyễn Thái Học, cùng các nhân vật chủ chốt, và các đồng sự khác bị bắt. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, Nguyễn Ái Quốc đã cho biết tình hình sau “vụ Quốc dân đảng” thì tình hình ở An Nam bị khủng bố gắt gao: “Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam Quốc dân đảng[34].

Khởi nghĩa Yên Bái bị thất bại, đồng thời với Yên Bái cuộc khởi nghĩa ở nhiều nơi khác cũng thất bại theo: “Cùng một đêm với Yên Bái, quân khởi nghĩa đã đánh đồn Hưng Hóa và chiếm phủ Lâm Thao. Theo kế hoạch, một khi Yên Bái đắc thắng, những toán quân này sẽ cùng hội quân ở Hưng Hóa, qua sông Trung Hà, đánh vào đồn Thông (Sơn Tây), họp với toán quân của Phó Đức Chính ở đây. Dân quân đánh đồn Hưng Hóa, do nhà lãnh tụ Nguyễn Khắc Nhu trực tiếp chỉ huy. Vì vũ khí kém và không có nội ứng, toán quân này không chiếm được đồn Hưng Hóa, phải rút về Lâm Thao. Tại Lâm Thao, nghĩa quân do Phạm Nhận chỉ huy đánh chiếm phủ Lâm Thao, hợp với toán quân từ Hưng Hóa kéo về. Bị quân đội Pháp từ Phú Thọ kéo đến phản công, lãnh tụ Nguyễn Khắc Nhu bị thương và bị bắt, cắn lưỡi chết”, “Chỉ trong một ngày, ông đã tự tử ba lần quyết chết để khỏi đội trời chung với quân thù[35]. Như vậy, là quân khởi nghĩa Yên Bái cũng như ở Hưng Hóa và Lâm Thao đã kế tiếp bị tan vỡ. “Dự định hợp binh đánh sang Sơn Tây không thực hiện được. Còn tại Sơn Tây cuộc chuẩn bị khởi nghĩa cũng bị lộ, thực dân Pháp hết sức đề phòng; thêm vào đấy ảnh hưởng thất bại của những quân khởi nghĩa tại Yên Bái và Phú Thọ, kết quả là kế hoạch đánh chiếm đồn Thông không thực hiện dược. Ít ngày sau Phó Đức Chính cũng bị bắt”[36].

Ở Thái Bình, cuộc đánh chiếm Phụ Dực (16-2-1930) theo tài liệu của thực dân viết: “Mấy ngày sau vụ nổi loạn ở Yên Bái, đêm ngày 15 rạng ngày 16-2-1930, huyện Phụ Dực cũng bị đánh chiếm cùng lúc với huyện Vĩnh Bảo (Hải Dương). Vào 9 giờ tối, một toán quân từ 40 đến 50 người, mang dao rựa, gậy gộc và một vài quả bom đột nhập vào nha môn của quan huyện… Toán quân ở đấy khoảng 2 tiếng đồng hồ, đốt các hồ sơ, nổ nhiều bom… Tòa sứ Thái Bình chỉ nhận được tin Phụ Dực bị đánh qua khu đại lý hành chính Ninh Giang và Phủ Thống sứ vào hồi 4 giờ sáng

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn