Vị bác sĩ quân y gần 50 năm tìm đồng đội, âm thầm góp sức khai quật ở Công viên Lê Thị Riêng
Gần 50 năm qua, vị bác sĩ quân y Trần Văn Bản (82 tuổi) miệt mài tìm kiếm hài cốt đồng đội. Nay, ông tiếp tục góp sức khai quật, tìm kiếm liệt sỹ tại Công viên Lê Thị Riêng (TPHCM).
"Bộ số 40. Xương sọ, xương cánh tay, xương cẳng chân, xương chậu... Còn thiếu xương bàn tay".
"Mẫu xương ADN của bộ số 45 đây".
"Có cái răng nào không?"
Những tiếng gọi nối nhau vang lên trong phòng lấy mẫu và lưu mẫu tại Công viên Lê Thị Riêng (TPHCM), nơi các chiến sỹ thuộc Bộ Tư lệnh TPHCM đang phân loại hài cốt liệt sỹ vừa được khai quật.
Giữa căn phòng, một người đàn ông tóc điểm bạc thoăn thoắt đón lấy từng mảnh hài cốt được chuyển lên từ hố đào. Ông đọc tên từng phần xương, đánh giá mức độ còn nguyên vẹn, chuyển sang nhóm tìm di vật, rồi cẩn thận làm sạch phần xương được chọn để giám định ADN trước khi chuyển cho bác sĩ. Những phần còn lại được các chiến sỹ nâng niu, đặt vào quách sành.
Ít ai nghĩ người đàn ông làm việc nhanh nhẹn, tỉ mỉ ấy đã bước sang tuổi 82.
Ông là Trần Văn Bản (quê Hải Phòng), cựu chiến binh Tiểu đoàn 342, Trung đoàn 42, Bộ Tư lệnh 350. Gần nửa thế kỷ qua, kể từ ngày đất nước thống nhất, ông gần như chưa bao giờ ngừng hành trình tìm kiếm hài cốt đồng đội.
Hôm nay, người lính năm nào vẫn lặng lẽ góp sức trong cuộc khai quật ở Công viên Lê Thị Riêng, tiếp tục thực hiện lời hứa đã nói với đồng đội từ gần 60 năm trước.
Để đồng đội không vô danh
Năm 18 tuổi, ông Bản bắt đầu đi khám nghĩa vụ quân sự, nhưng ba lần liên tiếp đều không đạt tiêu chuẩn vì quá gầy. Đến lần thứ tư, ông viết quyết tâm thư, lấy máu ký tên vào đơn xin nhập ngũ.
Ngày 25/3/1967, ông chính thức khoác áo lính. Sau hơn 8 tháng được huấn luyện tại Quảng Ninh, ngày 16/11/1967, ông cùng đồng đội làm lễ hạ sao, mang bí số 63, hành quân vào chiến trường miền Nam.
"6 tháng 13 ngày sau mới tới Trảng Bàng (Tây Ninh). Tới nơi lúc 19h thì 7h sáng hôm sau, chúng tôi bước vào trận đánh đầu tiên với Mỹ. Chưa có kinh nghiệm, vũ khí cũng chưa được bổ sung đầy đủ nên đơn vị hy sinh 14 người, nhưng tiêu diệt được 3 xe tăng của địch", ông Bản nhớ lại.
Đơn vị của ông chiến đấu ở "tam giác sắt" Củ Chi - Bến Cát - Trảng Bàng, địa bàn được quân đội Mỹ coi là vị trí chiến lược bảo vệ Sài Gòn. Những trận đánh tại đây diễn ra liên tục, có năm đơn vị tham gia tới 148 trận lớn, chưa kể những trận quy mô nhỏ.
Tháng 8/1968, sau trận đánh bốt Phố Hà Đông, ông Bản bị thương rất nặng và được chuyển về Quân y C10 điều trị. Đồng đội tưởng ông đã hy sinh nên báo tử về quê.
"Tôi thấy thương binh đưa về ào ạt, trong khi lực lượng quân y quá ít. Trước khi nhập ngũ tôi từng học cứu thương nên xin tham gia băng bó, tiêm thuốc cho thương binh", ông kể.
Những năm làm quân y giúp ông biết nhiều địa điểm chôn cất đồng đội trên chiến trường. Ở vùng "tam giác sắt", những người lính hy sinh thường chỉ được chôn tạm, không đắp mộ, không cắm bia, thậm chí phủ cỏ lên mặt đất để tránh bị đối phương phát hiện.
"Lính Mỹ nếu phát hiện mộ thì đào lên. Vì vậy, chúng tôi chỉ dám chôn từng nhóm nhỏ dưới 30 người. Chôn nhiều quá, cây sẽ héo, đất mới lộ ra, địch dễ phát hiện", ông nói.
Chính từ những lần tiễn đồng đội ấy, ông Bản âm thầm vẽ lại hơn 200 sơ đồ ghi vị trí chôn cất, với suy nghĩ giản dị: Nếu còn sống trở về, nhất định sẽ quay lại đưa họ về với gia đình.
Nhưng ghi nhớ vị trí thôi là chưa đủ. Ngay giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất, người quân y trẻ tuổi đã nghĩ đến ngày hòa bình. Ông tin rồi sẽ có lúc đồng đội cần được trở về với gia đình, nên bằng mọi cách phải giữ lại danh tính của họ.
Ban đầu, mỗi khi chôn cất liệt sỹ, ông cắt một mảnh thiếc từ lon sữa bò, dùng đinh khắc họ tên, quê quán, đơn vị và ngày hy sinh rồi đặt cùng thi thể. Thế nhưng, chỉ sau một trận bom, ngôi mộ bị cày nát, tấm thiếc cũng thất lạc.
"Tôi cứ nghĩ mãi, nếu sau này người ta đào lên mà không còn tên tuổi thì biết đưa các anh về với ai", ông nhớ lại.
Là quân y, ông chợt nhớ đến những lọ penicillin bằng thủy tinh vẫn dùng hàng ngày. Ông viết thông tin của từng liệt sỹ lên giấy, bôi mỡ bò hai mặt để chống nước, cuộn lại cho vào lọ, bịt kín rồi đặt vào miệng bộ đội hy sinh.
"Nếu sau này xương cốt đã tan rời, chỉ cần nhấc hộp sọ lên thì chiếc lọ vẫn còn đó, người ta sẽ biết anh ấy là ai, quê ở đâu", ông kể.
Theo lời ông, cuối năm 1969, cách làm này được phổ biến trong hệ thống quân y của Quân khu Sài Gòn - Gia Định để lưu lại danh tính các liệt sỹ trước khi chôn cất.
Còn với những sơ đồ vị trí chôn cất đồng đội, ông Bản từng có lúc tưởng như mất tất cả. Trong một lần rút lui sau trận đánh, ông suýt bị bắt. Để chạy thoát, ông buộc phải bỏ lại chiếc thùng đựng toàn bộ sơ đồ xuống một hố bom. Sau đó, máy bay B-52 ném bom rải thảm, mặt đất chi chít hố bom mới, chiếc thùng mãi mãi không thể tìm lại.
"Tôi tiếc lắm. Nhưng vì chính tay mình vẽ nên tôi vẫn nhớ. Nhắm mắt tôi cũng có thể vẽ lại khoảng 80% số sơ đồ ấy", người cựu chiến binh quả quyết.
"Tao cứ tưởng mày hiện hồn về..."
Sau trận đánh bốt Phố Hà Đông năm 1968, ông Bản bị thương rất nặng. Đồng đội tưởng ông đã hy sinh nên báo tử về quê. Ở nhà, gia đình làm lễ truy điệu, mẹ ông lập bàn thờ, ngày ngày thắp hương cho người con trai được tin đã nằm lại chiến trường.
Tháng 12/1976, sau nhiều năm điều trị và công tác, ông được nghỉ phép về thăm nhà. Ông hoàn toàn không biết gia đình đã nhận giấy báo tử.
"Xe vừa dừng trước cổng, hai đứa em nhìn thấy tôi thì òa khóc. Tôi còn hỏi: "Anh còn sống về, sao các em lại khóc?". Lúc đó mẹ tôi đang ở nhà người em rể, cách khoảng 500m", ông kể.
Nghe tin, người con rể vội cõng bà chạy về. Đường trơn, bà ngã lên ngã xuống, quần áo lấm lem bùn đất. Về đến nhà, bà chỉ ngồi nhìn con trai từ chiều đến tối, không nói một lời.
"Khi mọi người đã về hết, mẹ thắp 3 nén nhang lên bàn thờ rồi sang chỗ tôi nằm. Bà sờ từ mặt xuống đầu, rồi đến chân, sau đó lặng lẽ quay về giường. Khoảng một tiếng sau, bà lại thắp hương rồi sang sờ tôi thêm lần nữa", ông Bản nhớ lại.
Là người học ngành y, ông hiểu cú sốc quá lớn có thể khiến mẹ không còn nói được. Ông bật dậy ôm lấy mẹ: "Mẹ ơi, con là thằng Bản, con còn sống thật về với mẹ đây".
"Lúc đó, mẹ mới nói: "Tao cứ tưởng mày hiện hồn về...". Nhắc đến khoảnh khắc ấy, người cựu chiến binh 82 tuổi nghẹn giọng, đưa tay lau nước mắt.
Đêm đầu tiên trở về, hai mẹ con ông Bản gần như thức trắng. Nhưng sáng hôm sau, điều khiến ông day dứt hơn cả lại là hình ảnh những người mẹ khác trong làng tìm đến nhà.
Thôn của ông có 29 thanh niên nhập ngũ, chỉ 2 người sống sót trở về. Thấy ông từng có giấy báo tử nhưng vẫn còn sống, nhiều người mẹ không nhận được giấy báo tử ôm lấy ông, tin rằng con mình rồi cũng sẽ trở về như thế.
"Các mẹ mừng bao nhiêu thì trong lòng tôi đau bấy nhiêu. Tôi không dám nói sự thật, vì tôi biết các anh ấy đã hy sinh rồi", ông bùi ngùi.
Sáu tháng sau, chính ông là người xác nhận để địa phương gửi giấy báo tử đến gia đình những đồng đội đã nằm lại chiến trường.
"Mẹ anh Hòa (người cùng thôn - PV) ôm tôi khóc rồi nói: "Con mẹ chết rồi. Mẹ chỉ muốn nhìn thấy cái xương của nó để nhắm mắt cũng yên lòng. Con mẹ không biết nằm ở đâu...". Những lời ấy theo tôi suốt cuộc đời, nhiều đêm nghĩ lại vẫn không ngủ được", ông Bản xúc động.
Gần nửa thế kỷ trả nợ với đồng đội
Ông Bản kể, trước mỗi trận đánh, những người lính trẻ thường ngồi bên nhau và dặn dò: "Bây giờ xa quê hương vào đây, chúng ta coi nhau như anh em ruột thịt. Nếu hòa bình, thằng nào còn sống thì quay lại đưa hài cốt đồng đội về với mẹ nhé".
"Ngày đó nói vậy để động viên nhau thôi. Nhưng hòa bình rồi, mình còn sống thì lời hứa ấy trở thành món nợ rất lớn, phải trả bằng được", ông Bản bật khóc.
Đầu năm 1977, ông trở lại những chiến trường cũ, bắt đầu hành trình tìm kiếm hài cốt đồng đội. Hành trang của ông là hơn 200 sơ đồ tự vẽ, ký ức về từng trận đánh và sự giúp sức của những đồng đội còn sống, người dân địa phương.
Sau khi nghỉ hưu, ông dành nhiều thời gian hơn cho hành trình ấy. Ông cùng những đồng đội còn sống trở lại chiến trường, lần theo ký ức của người dân địa phương và những dấu tích còn sót lại để tìm từng vị trí chôn cất.
Nhưng chiến tranh đã lùi xa, địa hình cũng đổi khác.
"Có nơi ngày trước là vườn cây ăn trái, lúc quay lại đã thành ruộng lúa. Có hài cốt anh Hòa tôi phải đi tìm suốt 9 năm, đào 13 lần không thấy, đến lần thứ 14 mới xác định đúng vị trí", ông kể.
Không phải lần tìm kiếm nào cũng bắt đầu bằng sơ đồ. Có khi, ông trở lại chiến trường đúng vào đêm trăng như hơn nửa thế kỷ trước.
"Tôi ngồi lặng một lúc, nhắm mắt lại. Mọi thứ như cuốn phim quay chậm. Quá khứ và hiện tại cứ đan xen, rồi dần dần tôi nhớ ra chỗ đã chôn đồng đội", ông kể.
Gần nửa thế kỷ qua, ông đã cùng đồng đội và các cơ quan chức năng tìm kiếm được vị trí 2.423 hài cốt liệt sỹ. Mỗi chuyến đi, mỗi vị trí tìm kiếm đều được ông ghi chép cẩn thận vào những cuốn sổ mang theo.
Ông lấy ra cho phóng viên xem 5 cuốn sổ đã ngả màu theo năm tháng. Từng trang giấy kín chữ viết, ghi lại ngày tháng, địa điểm, những người ông từng gặp, từng cuộc tìm kiếm và từng hài cốt được đưa về. Có trang mực xanh, trang mực đen; nét chữ cũng thay đổi theo từng chặng đường ông đi qua.
"Những cuốn sổ này tôi không để đâu ngoài đầu giường. Đêm nào chợt nhớ đồng đội nằm ở đâu, tôi lại bật dậy ghi ngay, sợ sáng hôm sau quên mất", ông kể.
Bên cạnh những cuốn sổ ghi chép, ông còn giữ một album dày, dán kín hàng trăm bức ảnh về hành trình tìm kiếm hài cốt đồng đội suốt nhiều năm. Ông lật từng trang, chỉ vào từng bức ảnh và kể lại rành rọt thời gian, địa điểm, sự kiện. Dù bức ảnh đã cũ, có tấm bị đặt ngược chiều, ký ức của người cựu chiến binh vẫn nguyên vẹn như mới hôm qua.
Ở tuổi 82, ông Bản vẫn tiếp tục có mặt trong các cuộc tìm kiếm hài cốt liệt sỹ. Những bàn tay từng cầm súng năm xưa giờ cẩn trọng nâng niu từng mảnh xương đồng đội, đọc tên từng phần hài cốt, hỗ trợ lấy mẫu ADN để các anh có thêm cơ hội được trở về với gia đình.
Ngoài phòng lấy mẫu và lưu mẫu ở Công viên Lê Thị Riêng, nắng chiều dần tắt. Bên trong, tiếng ông Bản vẫn đều đều vang lên:
"Bộ số 46..."
Người cựu chiến binh 82 tuổi lại cúi xuống nâng niu từng mảnh hài cốt đồng đội, tiếp tục công việc ông đã theo đuổi gần nửa thế kỷ qua.


