Bài viết

Vị Đại tướng trong ký ức của người con xứ Lệ

Có những con người đi vào lịch sử bằng những chiến công lớn lao, nhưng khi trở về với quê nhà lại hiện lên thật gần gũi, giản dị. Với người từng có nhiều năm gắn với công việc trùng tu, phục chế nhà và khu vườn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại quê nhà An Xá, mỗi lần được gặp Đại tướng là một lần được chứng kiến một con người vĩ đại nhưng hết sức dung dị, thuần hậu, luôn giữ trọn tình quê và sự công tâm của một người cách mạng.

12/08/2026Nguỵ Thị Hà Trang (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh UBND tỉnh Quảng Trị)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Vị Đại tướng trong ký ức của người con xứ Lệ

Vẫn là người con của đồng quê xứ Lệ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp xa quê Lệ Thủy từ năm 14 tuổi để vào học tại Quốc học Huế, rồi bước vào con đường cách mạng. Những năm tháng hoạt động và công tác xa quê khiến ông có rất ít thời gian trở về Lệ Thủy, nhưng điều đặc biệt là giọng nói, cách dùng từ của người con xứ Lệ dường như chưa bao giờ phai nhạt.

Trong những lần trò chuyện với đồng chí, đồng bào quê nhà, Đại tướng vẫn sử dụng nhiều phương ngữ Lệ Thủy một cách tự nhiên. Khi nhắc đến chiếc phản từng gắn với tuổi thơ, ông nói: “Chắc nó thất lạc mô đó trong thôn, các cháu tìm chuộc nó về!”. Nói về khu vườn nhà mình, ông chỉ tay và bảo: “Nương nhà mình trước đây kéo dài ra tận ngoài mưng tề!”.

Tháng 8/1999, trong một lần về quê dự xem đua bơi trên dòng Kiến Giang, Đại tướng quay sang hỏi các cán bộ xã, thôn: “Đò mềng thứ mấy?”. Với người dân Lệ Thủy, đó là cách hỏi rất đỗi thân thuộc về thứ hạng của đò bơi, đò đua làng mình. Nhưng với những người được nghe câu hỏi ấy từ một vị Đại tướng lừng danh, cảm giác lại đặc biệt khó tả: giữa không khí hội đua đông vui, người ta bắt gặp một Võ Nguyên Giáp rất đời thường, vẫn giữ nguyên giọng nói và cách hỏi của người con quê Lệ Thủy.

Có lẽ cũng bởi vậy mà những món quà quê gửi ra Hà Nội cho Đại tướng chưa bao giờ cầu kỳ. Đó có khi chỉ là chai tinh dầu tràm được chưng cất thủ công từ những cây tràm vùng đồi Lệ Thủy; vài chai mật ong lấy từ miền Tây của huyện; ít tép phơi khô hay bao gạo làm từ lúa tái sinh ở An Xá.

Trong số ấy, Đại tướng thích nhất là dầu tràm. Đây vốn là thứ dầu quen thuộc với người dân miền Trung từ thuở trước, dùng để chống cảm lạnh, cảm mạo. Với nhiều người trẻ, món quà ấy có thể rất bình thường, nhưng Đại tướng vẫn giữ thói quen sử dụng cho đến cuối đời.

Qua nhiều lần tiếp xúc, người kể chuyện không bắt gặp vẻ uy nghiêm, xa cách của một vị Đại tướng mà cảm nhận rõ hơn sự bình dị, chân chất, ân cần của một người con quê hương, một người ông thuần hậu của vùng đất gió Lào, cát trắng.

Bữa sáng của hai mái đầu bạc

Ngày 12/2/2002, Đại tướng cùng gia đình về thăm quê và nghỉ tại nhà khách Huyện ủy. Khi ấy, người phụ trách công việc trùng tu nhà và vườn Đại tướng muốn tranh thủ gặp để hỏi thêm một số chi tiết, nhưng lịch làm việc của ông đã kín.

Biết vậy, đồng chí Bí thư Huyện ủy gợi ý sáng hôm sau sang ăn sáng rồi tranh thủ làm việc. Bữa sáng hôm ấy chỉ có Đại tướng, phu nhân Đặng Bích Hà, chị Hồng Anh và một vài người.

Nhà bếp mang lên mỗi người một bát cháo bồ câu hầm cùng vài món ăn nhẹ. Bà Đặng Bích Hà tự tay xé từng miếng thịt nhỏ, bỏ vào bát cho Đại tướng và luôn nhẹ nhàng giục ông ăn khi còn nóng.

Hình ảnh ấy khiến người chứng kiến không khỏi xúc động. Giữa căn phòng, hai mái đầu bạc bên nhau, không còn khoảng cách giữa một vị Đại tướng từng làm nên những chiến công vang dội và một nữ giáo sư khả kính. Trước mắt mọi người chỉ còn lại sự chăm sóc ân cần, sự gắn bó và hạnh phúc bình dị của một đôi vợ chồng đã đồng hành cùng nhau qua những chặng dài của cuộc đời.

Gần nửa thế kỷ vẫn nhớ một người làm thuê

Không chỉ giản dị, Đại tướng còn khiến nhiều người kinh ngạc bởi trí nhớ đặc biệt.

Tháng 11/1983, trong một lần về quê, Đại tướng đến thăm Trường cấp 3 Lệ Thủy. Giữa vòng vây của học sinh, cán bộ, giáo viên và người dân, ông bất ngờ rẽ đám đông, tiến đến trước một cụ già thấp đậm, quắc thước, râu tóc bạc trắng rồi hỏi:

“Tôi trông cụ quen quen? Có phải cụ là Choạc không?”.

Cụ già lúng túng đáp: “Thưa ngài… đúng ạ!”.

Đại tướng lập tức ngắt lời: “Xin cụ đừng gọi như vậy. Năm nay cụ bao nhiêu tuổi?”.

Cụ trả lời mình 71 tuổi. Đại tướng cười: “Tôi 73. Chúng ta là bạn đồng niên!”.

Sau khi Đại tướng rời đi, mọi người mới biết ông Lê Choạc, người làng Phan Xá, thuở thanh niên thường đến vùng An Xá cấy, gặt thuê, trong đó có nhà cụ Võ Quang Nghiêm, thân sinh Đại tướng. Những dịp nghỉ hè, cậu học sinh Võ Nguyên Giáp từ Huế về quê. Trong số những người làm thuê, ông Choạc là người khỏe mạnh, vui tính, hay hát hò nên khá nổi bật.

Gần nửa thế kỷ trôi qua, giữa một đám đông, Đại tướng vẫn nhận ra người quen cũ. Đó không chỉ là trí nhớ của một con người mà còn cho thấy ông luôn trân trọng những người từng đi qua cuộc đời mình, dù họ chỉ là một người làm thuê bình dị ở quê nhà.

Một câu hỏi khiến cả căn phòng bật cười

Trong đoàn thiết kế, trùng tu nhà Đại tướng có một kỹ sư xây dựng tên Sư. Trong lần đầu tiên làm việc, mọi người được giới thiệu với Đại tướng và phu nhân.

Đến lượt anh Sư, đồng chí Bí thư Huyện ủy giới thiệu: “Thưa bác, đây là anh Võ Giáo Sư!”.

Đại tướng hỏi ngay: “Giáo sư là học hàm à?”.

Mọi người bật cười. Khi được giải thích đó là tên khai sinh, Đại tướng cũng vui vẻ. Chỉ một câu hỏi hóm hỉnh, không khí buổi làm việc vốn trang trọng trở nên gần gũi, tự nhiên.

Một lần khác, sau khi huyện hoàn tất thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho khu vườn, lãnh đạo huyện điện báo cáo và xin đưa giấy chứng nhận ra Hà Nội. Đại tướng không đồng ý, bảo rằng khi có dịp về quê sẽ tự nhận.

Tháng 8/1999, khi Đại tướng và gia đình về Lệ Thủy, tại Văn phòng Huyện ủy, ông nhận tấm giấy chứng nhận từ tay đồng chí Đoàn Kim Xử, Chủ tịch UBND huyện rồi vui vẻ nói: “Tôi đang thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân đây!”.

Một câu nói giản dị nhưng thể hiện rất rõ cách ứng xử của một người luôn coi mình trước hết là một công dân, một người con của quê hương.

“Dĩ công vi thượng” từ chính việc của gia đình mình

Sự công tâm của Đại tướng còn được thể hiện qua một câu chuyện liên quan đến nơi an nghỉ của cha mẹ ông.

Cụ Võ Quang Nghiêm, thân sinh Đại tướng, là liệt sĩ. Năm 1977, khi tìm được hài cốt cụ và đưa từ Huế về quê, huyện đưa vào nghĩa trang liệt sĩ. Khi thiết kế nghĩa trang, địa phương dành riêng hai vị trí ở khu vực các anh hùng, liệt sĩ với ý định sau này an táng song thân Đại tướng.

Biết việc, Đại tướng cảm ơn thiện ý của lãnh đạo huyện nhưng không đồng ý. Ông nói đại ý rằng cha mình là một liệt sĩ bình thường, không thể đặt ở khu vực dành cho các anh hùng; còn mẹ ông là người dân, càng không thể đưa vào nghĩa trang liệt sĩ.

Theo ý nguyện của Đại tướng, cụ Võ Quang Nghiêm được an táng ở khu vực cạnh các anh hùng, liệt sĩ; còn thân mẫu ông được an táng phía ngoài nghĩa trang, cách khuôn viên vài chục mét, nằm khiêm nhường bên những phần mộ khác.

Từ việc của chính gia đình mình, Đại tướng đã thực hiện điều ông luôn nhắc nhở cán bộ: “Dĩ công vi thượng” - đặt việc công lên trên hết.

Một lời cảm ơn gửi người thợ cũ

Ngày 11/4/2002, khi công việc trùng tu cơ bản hoàn thành, Đại tướng về thăm lại ngôi nhà và khu vườn quê.

Giữa sự rộn ràng, nồng nhiệt của bà con đến chào đón, ông vẫn không quên gọi ông Đặng Đại Trung, Giám đốc đơn vị thi công đến hỏi chuyện. Khi biết ông Trung là cháu ruột của ông Đặng Đại Múng - người thợ từng trực tiếp làm ngôi nhà này năm xưa và hiện vẫn còn sống - Đại tướng ân cần gửi lời hỏi thăm, cảm ơn người thợ cũ.

Một công trình có thể được trùng tu bằng vật liệu, bằng kỹ thuật và công sức của nhiều người, nhưng với Đại tướng, những người từng góp một phần công sức làm nên ngôi nhà vẫn được ông nhớ đến và trân trọng.

Lần gặp cuối và tấm thiếp Tết

Lần cuối người kể chuyện được gặp Đại tướng là ngày 24/8/2005, khi ông đang điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Khi ấy, Đại tướng nằm phòng cách ly, việc thăm hỏi được hạn chế theo chế độ điều trị đặc biệt. Thế nhưng khi Đại tá Nguyễn Huyên báo có đoàn cán bộ Lệ Thủy ra thăm, ông vẫn cho gọi vào.

Biết Đại tướng mệt, đồng chí Chủ tịch UBND huyện chỉ nói lời chúc thọ. Cuộc gặp kéo dài chưa đầy mười phút. Dù sức khỏe đã yếu, Đại tướng vẫn ngồi lại để chụp một tấm ảnh chung với đoàn làm kỷ niệm.

Tết Đinh Hợi năm 2007, khi sức khỏe Đại tướng đã yếu, người kể chuyện bất ngờ nhận được một tấm thiếp chúc Tết có chữ ký của ông. Tấm thiếp nhỏ ấy, cùng bức ảnh chụp tại Bệnh viện 108, được ông gìn giữ suốt nhiều năm như những báu vật.

Bởi đó không đơn thuần là một tấm ảnh hay một lời chúc Tết. Đó là kỷ niệm về những lần được gặp một con người đã trở thành huyền thoại của lịch sử dân tộc nhưng khi trở về quê nhà vẫn giữ nguyên cốt cách của một người con xứ Lệ.

Một vị Đại tướng lừng danh nhưng không xa cách. Một vĩ nhân nhưng vẫn nhớ người làm thuê thuở nhỏ, nhớ tiếng quê, thích chai dầu tràm, bao gạo quê và những món quà mộc mạc. Một người đứng ở vị trí rất cao nhưng trong những việc liên quan đến bản thân và gia đình vẫn luôn giữ sự công tâm, chu đáo. Có lẽ chính từ những điều rất đỗi bình thường ấy mà hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lòng người dân quê nhà càng trở nên gần gũi, sâu sắc và đáng kính.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Vị Đại tướng trong ký ức của người con xứ Lệ | Câu chuyện thời hoa lửa