Anh hùng Lực lượng vũ trang

Vị Đô đốc đầu tiên của Hải quân Việt Nam và lời thề giữ đảo tạc vào sóng nước

"Vào những năm tháng vận mệnh biển đảo của Tổ quốc đứng trước thử thách khốc liệt nhất nơi ngực sóng Biển Đông, có một người lính già đã gác lại những trận mạc quen thuộc trên bộ để khoác lên mình màu áo trắng đại dương, dốc trọn những năm tháng cuối đời cho từng rạn đá, bãi san hô tiền tiêu. Đô đốc Giáp Văn Cương – vị Đô đốc đầu tiên và Tư lệnh kiệt xuất của Hải quân nhân dân Việt Nam – không chỉ là một danh tướng trận mạc dạn dày khói lửa từ hai cuộc kháng chiến trường kỳ, mà còn là nhà chiến lược đại dương kiệt xuất với tầm nhìn đi trước thời đại. Bằng ý chí sắt đá, linh cảm quân sự sắc bén và lời thề sinh tử giữ đảo trước muôn trùng sóng dữ, ông đã dựng nên thế trận phòng thủ Trường Sa lịch sử, để lại bài học ngàn đời về chủ quyền thiêng liêng nơi đầu sóng ngọn gió."

Bắc Ninh30/10/2026Dương Nguyễn Giáp/ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Xã Trần Phú (xã Trần Phú)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Người con đất ải Bắc và nửa đời tôi luyện trong lửa đạn bộ binh

Giáp Văn Cương sinh ngày 13 tháng 9 năm 1921 tại xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang – vùng đất trung du ải Bắc giàu truyền thống thượng võ, yêu nước và quật cường chống ngoại xâm. Sinh ra giữa thời kỳ đất nước còn chìm trong đêm dài thuộc địa, người thanh niên họ Giáp đã sớm mang trong mình bầu nhiệt huyết giải phóng dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mở ra một kỷ nguyên mới, chàng thanh niên 24 tuổi hăng hái bước vào hàng ngũ tự vệ cách mạng. Khi thực dân Pháp bội ước nổ súng đánh chiếm Nam Bộ và phát động cuộc chiến tranh xâm lược trên cả nước, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của non sông, Giáp Văn Cương tình nguyện gia nhập Vệ quốc đoàn, nằm trong những đoàn quân Nam tiến đầu tiên vượt dải Trường Sơn vào chia lửa với đồng bào phương Nam.

Suốt chín năm kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), dấu chân của ông in đậm trên các mặt trận ác liệt ở miền Trung, Tây Nguyên và Liên khu 5:

  • Từ một chiến sĩ dũng cảm, ông lần lượt trưởng thành qua các chức vụ tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội trưởng, rồi tiểu đoàn trưởng và trung đoàn trưởng thuộc Trung đoàn 83, Trung đoàn 108 và Đại đoàn 305 lừng danh.

  • Ở mặt trận miền Trung hiểm trở, ông nổi tiếng là một chỉ huy có lối đánh quyết đoán, gan lì, giỏi nắm bắt địa hình, chuyên tổ chức những trận công đồn, phục kích táo bạo trên các tuyến giao thông huyết mạch của đối phương.

  • Chiến dịch Bắc Tây Nguyên (1954), ông cùng đơn vị lập nhiều chiến công xuất sắc, giáng đòn sấm sét vào các binh đoàn cơ động của thực dân Pháp, góp phần cùng toàn quân làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

  • Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc, tiếp tục được tôi luyện trong môi trường chính quy của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông lại mang kinh nghiệm dày dạn trở lại các chiến trường khốc liệt nhất: từ Tư lệnh Sư đoàn 3 (Sư đoàn Sao Vàng) anh hùng tại chiến trường Bình Định, đến cương vị Phó Tư lệnh Mặt trận B1, rồi Phó Tư lệnh Quân khu 4 và Phó Tư lệnh Bộ đội Đặc công.

    Chiến dịch Trị – Thiên năm 1972 và cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 chứng kiến một vị chỉ huy lục quân Giáp Văn Cương mưu lược, sắc sảo, luôn có mặt ở những mũi nhọn đột kích then chốt, góp phần vào ngày non sông liền một dải ngày 30 tháng 4 năm 1975.

    2. Cuộc chuyển hướng định mệnh sang đại dương và cương vị Tư lệnh Hải quân

    Sau ngày thống nhất non sông, đất nước bước vào một giai đoạn lịch sử mới với không gian lãnh thổ được mở rộng toàn vẹn từ đất liền ra biển lớn. Bờ biển dài hơn 3.260 km cùng hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ và thềm lục địa rộng lớn mở ra tiềm năng kinh tế vô tận, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức quốc phòng vô cùng nặng nề.

    Năm 1977, Trung tướng Giáp Văn Cương – một vị tướng bộ binh dày dạn hơn 30 năm đánh giặc trên cạn, từ rừng núi đến đồng bằng – bất ngờ được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tin tưởng giao trọng trách: Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

    Đó là một bước ngoặt lịch sử đối với cá nhân ông và đối với cả lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam:

    • Khi ấy, Hải quân Việt Nam vừa tiếp quản các cơ sở quân cảng, tàu thuyền của chế độ cũ để lại trong tình trạng thiếu thốn linh kiện, vũ khí trang bị đa hệ, đội ngũ cán bộ kỹ thuật còn non trẻ.

  • Nhận nhiệm vụ ở tuổi 56, vị tướng bộ binh đất Bắc Giang không hề ngần ngại. Ông khoác lên mình bộ quân phục hải quân màu trắng, lập tức lao vào nghiên cứu biển đảo với tinh thần tự học phi thường. Ông dành hàng tháng trời đọc các tài liệu về khí tượng thủy văn, dòng hải lưu, chế độ nhật triều, cấu tạo thềm lục địa Biển Đông, và trực tiếp lênh đênh trên những chuyến tàu vận tải thô sơ ra khắp các vùng biển từ Vịnh Bắc Bộ, vùng biển Tây Nam cho đến các đảo tiền tiêu.

  • Giai đoạn 1977 – 1980, trên cương vị Tư lệnh Hải quân, ông đã chỉ đạo các lực lượng hải quân bảo vệ vững chắc vùng biển Tây Nam trong chiến tranh bảo vệ biên giới và làm tròn nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng.

  • Sau một thời gian ngắn được điều động giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (1980 – 1984), đến năm 1984, trước những biến động phức tạp và nguy cơ tiềm tàng trên vùng biển phía Đông, Đảng và Quân đội một lần nữa điều động Trung tướng Giáp Văn Cương trở lại chiếc ghế Tư lệnh Quân chủng Hải quân (1984 – 1990).

    Chính trong nhiệm kỳ thứ hai đầy bão táp này, tên tuổi của ông đã gắn liền bất tử với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa.

    3. Tầm nhìn chiến lược vượt thời đại và Chiến dịch CQ-88 giữ đảo

    Từ giữa thập niên 1980, bằng nhãn quan quân sự sắc sảo và linh cảm thiên bẩm của một tướng trận kỳ cựu, Tư lệnh Giáp Văn Cương đã sớm nhận ra những toan tính thôn tính và mưu đồ gặm nhấm từng bãi ngầm, rạn đá ở quần đảo Trường Sa của nước ngoài:

    • Vào thời điểm đó, nhận thức về phòng thủ biển đảo nói chung và phòng thủ các bãi cạn san hô chìm nói riêng còn chưa thực sự được đặt lên mức báo động khẩn cấp do đất nước đang chìm trong khủng hoảng kinh tế và bị bao vây cấm vận.

  • Tuy nhiên, Tư lệnh Giáp Văn Cương đã kiên trì bảo vệ quan điểm trước Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng: Mất đảo là mất biển, mà mất biển là mất thế đứng chiến lược của quốc gia. Các bãi đá ngầm ở Trường Sa dẫu chìm dưới nước khi thủy triều lên, nhưng lại là những điểm tựa sinh tử để xác lập chủ quyền và bảo vệ thềm lục địa Tổ quốc.

  • Năm 1987, ông đề xuất và trực tiếp chỉ đạo triển khai kế hoạch tác chiến đặc biệt mang mật danh Kế hoạch CQ-87 (Chủ quyền 87), tiền đề cho Chiến dịch CQ-88 (Chủ quyền 88) lịch sử:

    • Chiến lược chiếm giữ các bãi đá ngầm: Ông chỉ đạo các tàu vận tải của Lữ đoàn 125, cán bộ chiến sĩ Lữ đoàn 146 và công binh Công binh Hải quân thần tốc tổ chức các chuyến hải trình bí mật trong điều kiện sóng to gió lớn để đóng giữ, cắm cờ và dựng nhà giàn, công sự dã chiến trên hàng loạt bãi đá chìm xung quanh các đảo nổi truyền thống.

  • Nhờ tầm nhìn đi trước ấy, hàng loạt điểm đảo xung yếu như Đá Tây, Tiên Nữ, Đá Lát, Thuyền Chài, Tốc Tan, Núi Le... đã được bộ đội ta cắm cờ xác lập chủ quyền và đóng giữ kiên cố trước khi đối phương kịp đưa tàu đến chiếm đóng.

  • Biến cố lịch sử ngày 14/3/1988 (Trận Gạc Ma): Khi đối phương dùng tàu chiến hỏa lực mạnh tấn công đổ bộ lên bãi đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao, 64 cán bộ, chiến sĩ hải quân Việt Nam đã nắm tay nhau kết thành "Vòng tròn bất tử" giữ cờ Tổ quốc. Giữa lúc căng thẳng leo thang đỉnh điểm và nguy cơ xung đột lớn trên biển, Tư lệnh Giáp Văn Cương trực tiếp túc trực tại sở chỉ huy tiền phương ở Cam Ranh và chỉ huy trực tiếp ngoài biển. Bằng sự quyết đoán phi thường, ông chỉ đạo các đơn vị kiên quyết dùng tàu ủi bãi giữ vững Cô Lin và Len Đao, chặn đứng hoàn toàn âm mưu thôn tính toàn bộ cụm đảo Sinh Tồn của đối phương.

  • Sau biến cố tháng 3/1988, ông đã có một chuyến thị sát lịch sử ra quần đảo Trường Sa. Đứng trước hàng quân trên đảo Trường Sa Lớn vào dịp kỷ niệm ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam (tháng 5/1988), giữa bạt ngàn sóng gió và sương muối, vị tướng già đầu bạc trắng đã cất lên lời thề đanh thép lay động lòng người:

    "Chúng ta xin thề trước hương hồn của tổ tiên, trước hương hồn của các cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc: Xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta!"

    Lời thề ấy của Tư lệnh Giáp Văn Cương đã trở thành kim chỉ nam hành động, khắc sâu vào tâm khảm của từng thế hệ lính đảo và hàng triệu người con đất Việt.

    4. Đô đốc đầu tiên và "kiến trúc sư" thế trận nhà giàn DK1

    Tầm nhìn chiến lược của Đô đốc Giáp Văn Cương không chỉ dừng lại ở các đảo nổi, đảo chìm tại quần đảo Trường Sa, mà còn vươn xa tới thềm lục địa phía Nam – nơi chứa đựng nguồn tài nguyên dầu khí huyết mạch của đất nước.

    Năm 1988, ông được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước thăng quân hàm Đô đốc Hải quân (tương đương Thượng tướng). Ông trở thành vị Đô đốc đầu tiên và duy nhất trong lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam suốt nhiều thập kỷ.

    Nhận thức rõ âm mưu của các thế lực muốn tiến sâu xuống phía Nam để phong tỏa tuyến hàng hải quốc tế và chiếm đoạt tài nguyên dầu mỏ ở thềm lục địa, Đô đốc Giáp Văn Cương đã cùng các cộng sự đề xuất một sáng kiến quân sự mang tính đột phá thế kỷ: Xây dựng các Cụm Dịch vụ – Kinh tế – Khoa học – Kỹ thuật trên thềm lục địa phía Nam (nhà giàn DK1).

    • Đây là một ý tưởng vô cùng táo bạo: Dựng các nhà giàn bằng kết cấu thép cắm sâu vào các bãi cạn san hô ngầm cách đất liền hàng trăm hải lý, nơi độ sâu hàng chục mét nước và thường xuyên hứng chịu những cơn bão biển khủng khiếp.

  • Dưới sự chỉ đạo ráo riết của ông, từ giữa năm 1989, các nhà giàn DK1 đầu tiên tại các bãi ngầm Phúc Tần, Ba Kè, Huyền Trân, Quế Đường, Cà Mau... lần lượt mọc lên hiên ngang giữa đại dương.

  • Hệ thống nhà giàn DK1 đã trở thành những "cột mốc sống" khẳng định chủ quyền thềm lục địa, trạm tiền tiêu cảnh báo sớm từ xa và bảo đảm an toàn cho các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của Tổ quốc.

  • Chính nhờ thế trận liên hoàn kết hợp giữa các đảo Trường Sa và hệ thống nhà giàn DK1 do Đô đốc Giáp Văn Cương dày công kiến tạo, Việt Nam đã xác lập một vành đai phòng thủ vững chắc, giữ vững chủ quyền biển đảo trong những giai đoạn khó khăn và sóng gió nhất của lịch sử.

    5. Khúc tráng ca của một nhân cách lớn

    Đô đốc Giáp Văn Cương là hiện thân tiêu biểu của thế hệ tướng lĩnh "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu". Ở ông hội tụ trọn vẹn sự quyết liệt, cứng cỏi của người chỉ huy chiến trường và tấm lòng nhân ái, mộc mạc, gần gũi với cấp dưới.

    Suốt những năm tháng lăn lộn ngoài biển đảo, ông chia sẻ từng bát canh rau muống héo, từng ca nước ngọt với những người lính trẻ. Ông luôn trăn trở làm sao để cải thiện đời sống cho bộ đội Trường Sa, làm sao để tàu thuyền có đủ dầu chạy, làm sao để xây được những công sự bê tông kiên cố thay thế cho những túp lều bạt dã chiến chịu bão dập sóng dồi. Người lính hải quân coi ông như một người cha, người chú ruột thịt – người luôn xuất hiện ở những nơi đầu sóng ngọn gió nguy hiểm nhất để tiếp thêm ý chí và niềm tin.

    Làm việc quên mình vì đại dương cho đến những ngày sức cùng lực kiệt, Đô đốc Giáp Văn Cương đã trút hơi thở cuối cùng vào tháng 3 năm 1990 tại Bệnh viện Quân y 108 ở Hà Nội, hưởng thọ 69 tuổi. Trước lúc đi xa, trong những cơn mê sảng vì bạo bệnh, tâm trí của vị Đô đốc già vẫn luôn hướng về Trường Sa, miệng vẫn lẩm bẩm nhắc đến tên từng bãi đá, từng con tàu và căn dặn việc tiếp tế cho bộ đội ngoài đảo.

    6. Sự ghi nhận và bất tử cùng muôn trùng sóng nước

    Ghi nhận những công lao to lớn, cống hiến đặc biệt xuất sắc và tầm nhìn chiến lược cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, năm 2010, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định truy tặng Đô đốc Giáp Văn Cương danh hiệu cao quý nhất: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    Ông cũng được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:

    • Huân chương Độc lập hạng Nhất;

  • Huân chương Quân công hạng Nhất;

  • Huân chương Chiến công hạng Nhất;

  • Huân chương Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hạng Nhất cùng nhiều huân, huy chương và kỷ niệm chương vẻ vang khác.

  • Tên của Đô đốc Giáp Văn Cương ngày nay đã được đặt trang trọng cho các tuyến đường lớn tại thành phố Đà Nẵng, thành phố Bắc Giang và nhiều địa phương trên cả nước. Hình ảnh người chỉ huy cao lớn với mái tóc hoa râm đứng hiên ngang trước gió biển Trường Sa năm 1988 mãi mãi là một tượng đài bất tử về lòng trung kiên ái quốc, tạc vào lịch sử non sông như một người lính vĩ đại của biển khơi Việt Nam.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn