Vị "Giải nguyên" từ bỏ nhung lụa để dấn thân vì dân tộc
Trong lịch sử cách mạng cận hiện đại Việt Nam, cụ Huỳnh Thúc Kháng (bí danh Mính Viên) là một nhân vật lịch sử vô cùng đặc biệt. Không chỉ là một trong những nhà lãnh đạo kiệt xuất của phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX, cụ còn là biểu tượng rực rỡ của tinh thần đại đoàn kết dân tộc khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng trao giữ trọng trách Quyền Chủ tịch nước vào năm 1946. Cả cuộc đời cụ là một bài ca chính khí về lòng yêu nước sắt son, sự liêm khiết và tư duy canh tân vĩ đại.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876 tại làng Thạnh Bình, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra trong một gia đình nho học, cụ nổi tiếng thông minh xuất chúng, đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương năm 1900 và đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ) kỳ thi Hội năm 1904.
Vào thời điểm đó, danh vị Hoàng giáp là tấm vé vàng để bước vào chốn quan trường, hưởng vinh hoa phú quý. Thế nhưng, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, nhân dân lầm than dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, cụ đã từ quan, khước từ mọi bổng lộc để cùng các chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp khởi xướng Phong trào Duy Tân (1905–1908). Phong trào này kêu gọi khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, mở trường học, cổ vũ thực nghiệp và cải cách lối sống nhằm tự cường dân tộc.
Năm 1908, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ nổ ra mạnh mẽ, thực dân Pháp lo sợ ảnh hưởng của phong trào Duy Tân nên đã thẳng tay đàn áp. Cụ Huỳnh Thúc Kháng bị bắt và bị đày ra "địa ngục trần gian" Côn Đảo với bản án chung thân khổ sai. Suốt 13 năm giam cầm chịu đựng đòn roi tàn bạo, cụ vẫn giữ vững dũng khí của một bậc đại phu, không hề khuất phục trước kẻ thù.
Sau khi được trả tự do vào năm 1921, cụ tiếp tục dùng ngòi bút làm vũ khí chiến đấu. Năm 1927, cụ sáng lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo Tiếng Dân tại Huế. Đây là tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Trung Kỳ, đóng vai trò như một diễn đàn tiến bộ, dùng lý luận sắc bén để vạch trần chính sách bóc lột của thực dân, thức tỉnh lòng yêu nước và cổ vũ tinh thần tự lực của quốc dân đồng bào suốt 16 năm ròng rã.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đứng trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" khi phải đối phó với thù trong giặc ngoài. Trân trọng tài năng và đức độ của một bậc đại nho yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lặn lội mời cụ Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ liên hiệp lâm thời với cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Năm 1946, trước khi sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình cho đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tin tưởng trao lại quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng với tư cách Quyền Chủ tịch nước, kèm theo lời dặn dò lịch sử: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" (Lấy cái không thay đổi là độc lập chủ quyền để ứng phó với muôn vàn biến đổi). Trong mấy tháng ngắn ngủi chèo lái con thuyền đất nước, cụ Huỳnh đã xử lý mưu trí, kiên quyết dẹp tan các âm mưu phá hoại của các thế lực phản động, giữ vững an ninh chính trị và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.


