Vì sao Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được đổi tên thành Chiến dịch Hồ Chí Minh?
Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), vốn đã đầy ắp những sự kiện, nhưng càng trở nên phong phú, sinh động hơn bởi trong đó Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước có ý nghĩa giá trị dân tộc và thời đại sâu sắc. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, Chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn là đỉnh cao thắng lợi của chiến tranh cách mạng Việt Nam, đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta những trang vàng chói lọi nhất.
Sau Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27-1-1973), nhận thấy tương quan so sánh lực lượng đã hoàn toàn nghiêng về phía ta, ngày 7-1-1975, Bộ Chính trị họp “Bàn về tình hình và nhiệm vụ cuộc chống Mỹ, cứu nước” hạ quyết tâm lịch sử: Giải phóng miền Nam. Bộ Chính trị nhận thấy quân Mỹ khó có khả năng quay lại tham chiến tại miền Nam và nhất trí thông qua phương án giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976, đồng thời chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu và xác định: “Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực”[1]. Thực hiện chủ trương đề ra, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, bắt đầu từ ngày 4-3-1975 với chiến thắng mở đầu Buôn Ma Thuột. Tiếp đó, chiến thắng ở Tây nguyên, chiến thắng Trị Thiên - Huế, chiến thắng Đà Nẵng và miền Trung Trung Bộ đã làm thay đổi hẳn lực lượng so sánh giữa ta và địch. Quân ngụy Sài Gòn không những không có khả năng lấy lại các vùng đã mất mà còn đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn.
Đánh giá thế và lực so sánh ta - địch sau chiến thắng miền Trung, Bộ Chính trị họp ngày 31-3-1975 nhận định: “Về chiến lược, về lực lượng quân sự, chính trị, ta đã có sức mạnh áp đảo, địch đang đứng trước nguy cơ sụp đổ và diệt vong. Mỹ tỏ ra hoàn toàn bất lực, dù có tăng viện cũng không thể cứu vãn được tình thế của ngụy. Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt, mà thời cơ để mở tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn - Gia Định đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu”[2].
Từ đánh giá đó, Bộ Chính trị quyết định: “Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm. Phải hành động “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”. Phải tiến công những lúc địch hoang mang, suy sụp. Tập trung lực lượng lớn hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trên từng hướng, trong từng lúc. Phát huy sức mạnh của ba đòn chiến lược, kết hợp tiến công và nổi dậy, từ ngoài đánh vào, từ trong đánh ra”.
Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 7-4-1975, đồng chí Đại tướng Tổng Tư lệnh, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho các đơn vị đang đổ vào chiến trường: “Mệnh lệnh: 1- Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. 2- Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”. Bức điện được Ban Cơ yếu lập tức truyền đi khắp các mặt trận trên toàn miền Nam như “Lời hịch tướng sĩ”. Mệnh lệnh truyền đạt quyết tâm cao nhất của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tới các cấp lãnh đạo và chỉ huy chiến trường, tới mỗi đảng viên, chiến sĩ để chủ động sáng tạo, thừa thắng, xốc tới, hướng mọi hành động theo phương châm thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng.
Quyết tâm chiến lược, tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo của Đảng, của Quân ủy Trung ương được quán triệt đến toàn quân, toàn dân. Cả nước sôi nổi không khí ra trận. Hàng nghìn xe vận tải chở quân, chở hàng theo Đường 1, đường Đông và Tây Trường Sơn, ngày đêm hối hả lao về phía Nam. Các nhà ga, bến cảng nhộn nhịp hoạt động, đưa gạo, đưa đạn lên các đoàn tàu hỏa, các tàu biển, chuyển xuống các đoàn canô kéo theo sà lan để theo các tuyến đường sắt, đường sông, đường vận tải ven biển tiến về Sài Gòn. Hơn lúc nào hết, “thời gian lúc này là lực lượng, là sức mạnh. Yêu cầu của mặt trận hết sức gấp, từng ngày, từng giờ. Cần phải hành quân hết sức nhanh, chi viện hết sức gấp”[5]. Quân đoàn 1 từ hậu phương lớn miền Bắc; Quân đoàn 2 vừa tham gia chiến dịch giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung Trung Bộ; Quân đoàn 3 vừa đánh trận mở đầu Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên và ba tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa; Quân đoàn 4 vừa lập chiến công trên Đường 14 - Phước Long lịch sử; Đoàn 232 mới thành lập từ các sư đoàn đã dày dạn chiến đấu ở hướng Tây - Nam Sài Gòn.
Các quân đoàn binh chủng hợp thành cùng nhiều đơn vị công binh, pháo binh, phòng không, xe tăng, đặc công, ào ạt tiến quân về chiến trường trọng điểm. Các đơn vị vừa đi, vừa đánh địch, vừa mở đường, bắc cầu. Trong đoàn quân tiến về Sài Gòn, đánh trận cuối cùng của cuộc chiến tranh giải phóng, có chiến sĩ là đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đã đánh trận đầu tiên diệt đồn Phai Khắt hơn 30 năm về trước. Có chiến sĩ đã đánh quân Pháp xâm lược trên đường phố Sài Gòn ngày 23-9-1945. Nhiều sư đoàn, trung đoàn từng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Nhiều chiến sĩ tuổi 17, 18, mới lần đầu được mặc bộ quân phục chỉ ít ngày trước đó. Cả dân tộc lên đường. Cả nước ra trận. Mấy thế hệ cùng đi đánh giặc. Sức mạnh tổng hợp được tích lũy từ mấy chục năm của miền Bắc và miền Nam, hậu phương và tiền tuyến, vùng giải phóng và vùng địch kiểm soát, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích được nhân lên trong trận đánh chiếm sào huyệt cuối cùng của Mỹ, ngụy. Nam Bộ - Thành đồng của Tổ quốc, Nam Bộ đi trước về sau, thời điểm này là nơi hội tụ của các cánh quân trong trận quyết chiến lịch sử cuối cùng.
Ngày 6-4-1975, thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, Bộ tư lệnh chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định được thành lập gồm các đồng chí: Tư lệnh Chiến dịch: Đại tướng Văn Tiến Dũng; Chính ủy: Phạm Hùng; các Phó tư lệnh: Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh Đức Thiện, Trung tướng Lê Trọng Tấn; Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị: Trung tướng Lê Quang Hòa; Quyền Tham mưu trưởng Chiến dịch: Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền.
Thể theo nguyện vọng của nhân dân và các lực lượng vũ trang trên chiến trường, trong đó có quân và dân thành phố Sài Gòn - Gia Định, ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị phê chuẩn đề nghị của Bộ tư lệnh Chiến dịch đặt tên Chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định là Chiến dịch Hồ Chí Minh[6]. Tin chiến dịch được mang tên Bác Hồ đến với toàn dân, toàn quân đã tạo nên sức mạnh mới. Được tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh là niềm tự hào, vinh dự to lớn của mỗi người Việt Nam, thế hệ làm nên chiến thắng mùa Xuân 1975 lịch sử.



