Vị Thuyền Trưởng Huyền Thoại Của Tàu Không Số Và Khúc Tráng Ca Vũng Rô
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bên cạnh tuyến đường bộ Trường Sơn vĩ đại, lịch sử dân tộc Việt Nam còn tự hào với một tuyến đường chi viện chiến lược mang tên "Đường Hồ Chí Minh trên biển". Để vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược vào miền Nam, những con "Tàu không số" đã phải vượt qua muôn trùng sóng gió và hệ thống phong tỏa dày đặc, hiện đại bậc nhất của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ. Trong đội ngũ những người lính hải quân quả cảm năm xưa, Trung tá Hồ Đắc Thạnh, thuyền trưởng Tàu 41, nổi lên như một huyền thoại sống. Trải qua những chuyến hải trình sinh tử, ông may mắn sống sót đến ngày hòa bình và trở thành một "bảo tàng sống", kể lại cho hậu thế nghe về kỳ tích Vũng Rô chấn động một thời.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bên cạnh tuyến đường bộ Trường Sơn vĩ đại, lịch sử dân tộc Việt Nam còn tự hào với một tuyến đường chi viện chiến lược mang tên "Đường Hồ Chí Minh trên biển". Để vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược vào miền Nam, những con "Tàu không số" đã phải vượt qua muôn trùng sóng gió và hệ thống phong tỏa dày đặc, hiện đại bậc nhất của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ. Trong đội ngũ những người lính hải quân quả cảm năm xưa, Trung tá Hồ Đắc Thạnh, thuyền trưởng Tàu 41, nổi lên như một huyền thoại sống. Trải qua những chuyến hải trình sinh tử, ông may mắn sống sót đến ngày hòa bình và trở thành một "bảo tàng sống", kể lại cho hậu thế nghe về kỳ tích Vũng Rô chấn động một thời.
Hồ Đắc Thạnh sinh năm 1934 tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Vùng quê duyên hải Nam Trung Bộ với những bãi biển cát trắng mênh mông đã sớm nuôi dưỡng trong ông tình yêu biển cả. Lớn lên trong cảnh đất nước chia cắt, chứng kiến đồng bào miền Nam bị kìm kẹp, năm 1950, Hồ Đắc Thạnh tham gia cách mạng. Sau Hiệp định Geneva năm 1954, ông tập kết ra Bắc và được biên chế vào lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam. Đầu những năm 1960, khi cách mạng miền Nam khát khao vũ khí để đồng khởi, Trung ương Đảng quyết định mở tuyến đường vận tải chiến lược trên biển. Đoàn 125 (tiền thân là Đoàn 759) được thành lập, và Hồ Đắc Thạnh vinh dự trở thành một trong những thuyền trưởng đầu tiên của đoàn tàu Không số, chỉ huy Tàu 41.
Sứ mệnh lịch sử của Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh và Tàu 41 gắn liền với những chuyến đi vào bến Vũng Rô (tỉnh Phú Yên). Cuối năm 1964, chiến trường Khu 5 và Tây Nguyên bước vào giai đoạn quyết liệt, cần gấp một lượng lớn vũ khí để mở các chiến dịch lớn. Vũng Rô, một vịnh biển nước sâu nằm dưới chân đèo Cả, được chọn làm bến tiếp nhận. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ cực kỳ hiểm nghèo, bởi Vũng Rô nằm sâu trong vùng kiểm soát gắt gao của địch, cách đồn biên phòng và căn cứ hải quân của quân đội Sài Gòn chỉ vài kilomet. Mọi động tĩnh trên mặt biển đều bị hệ thống radar, máy bay trinh sát và tàu chiến tuần tiễu của Mỹ - ngụy giám sát 24/24.
Nhận lệnh từ cấp trên, đêm 16 tháng 11 năm 1964, Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh nhổ neo Tàu 41 mang theo hơn 60 tấn vũ khí, đạn dược từ bến K15 (Hải Phòng) hướng về Nam. Để qua mắt hệ thống do thám của địch, Tàu 41 phải cải trang thành tàu đánh cá nước ngoài, di chuyển theo hải trình dích dắc, vòng ra vùng biển quốc tế. Suốt mười ngày lênh đênh trên biển, Hồ Đắc Thạnh và các thủy thủ phải gồng mình chống chọi với những cơn bão lớn, sóng cao lút boong tàu, nhiều lúc tưởng chừng như con tàu nhỏ bé sẽ bị nuốt chửng giữa đại dương. Đồng thời, họ phải liên tục căng mắt quan sát, khéo léo đổi hướng mỗi khi phát hiện ánh đèn của tàu tuần tiễu địch từ xa.
Đêm 28 tháng 11 năm 1964, Tàu 41 tiến vào vùng biển Phú Yên. Lúc này, bóng tối bao trùm, biển động mạnh. Dựa vào những ánh lửa tín hiệu le lói trên vách núi do lực lượng du kích địa phương đốt lên làm ám hiệu, Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh thể hiện bản lĩnh đi biển điêu luyện, lách tàu qua những bãi đá ngầm hiểm hóc, từ từ tiến sâu vào vịnh Vũng Rô. Khi mũi tàu chạm bờ, những người lính hải quân và du kích địa phương ôm chầm lấy nhau trong nước mắt. Họ không dám reo hò, chỉ khóc nấc lên vì sung sướng. Khối lượng vũ khí 60 tấn lập tức được hàng trăm dân công, du kích vận chuyển thần tốc lên những hang đá bí mật trên núi ngay trong đêm.
Nhưng thử thách lớn nhất chưa dừng lại ở đó. Gần sáng, khi việc dỡ hàng vừa hoàn tất, một chiếc tàu tuần tiễu của địch bất ngờ rẽ sóng đi tuần ngang qua cửa vịnh. Mọi người nín thở. Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh lập tức ra lệnh cho thủy thủ đoàn ngụy trang Tàu 41 bằng lá cây rừng, ép sát tàu vào vách núi đá. Ông cũng ra lệnh cho tất cả anh em vào vị trí sẵn sàng chiến đấu, tay ôm bọc phá, quyết tâm thà nổ tung tàu cùng kẻ địch chứ nhất quyết không để lộ bí mật đường dây. May mắn thay, nhờ sự ngụy trang khéo léo và màn đêm che phủ, tàu địch đã đi qua mà không phát hiện ra điều gì bất thường. Đêm hôm sau, Tàu 41 rời Vũng Rô an toàn, quay trở lại miền Bắc, lập nên một kỳ tích chưa từng có.
Sự thành công của chuyến đi đầu tiên đã mở đường cho Tàu 41 và Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh thực hiện thành công liên tiếp hai chuyến nữa vào Vũng Rô vào tháng 12 năm 1964 và tháng 1 năm 1965, đưa tổng cộng hàng trăm tấn vũ khí vào chi viện cho chiến trường Nam Trung Bộ. Số vũ khí này đã góp phần quyết định giúp quân dân ta giành thắng lợi vang dội trong nhiều chiến dịch lịch sử. Với những chiến công đặc biệt xuất sắc và trí dũng song toàn, năm 1970, Hồ Đắc Thạnh vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
May mắn sống sót qua những năm tháng vượt biển tử thần, sau ngày đất nước thống nhất, Hồ Đắc Thạnh tiếp tục công tác trong lực lượng Hải quân và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Yên cho đến ngày nghỉ hưu. Hiện nay, dù đã ở tuổi "cửu thập", vị thuyền trưởng râu tóc bạc phơ vẫn minh mẫn và thường xuyên trở lại khu di tích Tàu không số Vũng Rô. Ông trở thành một nhân chứng lịch sử vô giá, đích thân đứng trước mũi tàu kể lại cho hàng ngàn học sinh, sinh viên và du khách nghe về những đêm tối trời vượt bão, về tinh thần sẵn sàng quyết tử của những người lính biển năm xưa. Lời kể của nhân chứng sống Hồ Đắc Thạnh là cuốn biên niên sử bằng xương bằng máu, khẳng định sức mạnh vô tận của ý chí con người Việt Nam trên con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại.


