VỊ TỔ TRUNG HƯNG NGÔ QUYỀN

VỊ TỔ TRUNG HƯNG NGÔ QUYỀN
Trong những trang sử vẻ vang của dân tộc, có những con người không cần quá hoàn hảo nhưng họ lại dùng chính sự tự tin, can đảm ấy cũng đủ tạo bước ngoặt cho dòng chảy dân tộc Việt Nam ta. Ngô Quyền-người mở đầu cho nền độc lập, tự chủ là nhân chứng cho một cuộc đời không chỉ sống mà còn là người viết nên vận mệnh cho cả dân tộc. Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ (tức ngày 17 tháng 4 năm 898) và mất vào ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn(hay năm 944) hương dương 45 tuổi. Quê ông ở Đường Lâm, Ba Vì (Hà Nội ngày nay). Ông sinh ra trong một dòng họ hào trưởng quý tộc lâu đời, có cha là Ngô Mân - một châu mục có tài có đức tại địa phương. Sinh ra trong một thời kỳ đầy biến động, khi đó, đất nước đang chìm trong ách đô hộ Phương Bắc. Từ nhỏ, ông đã được cha dạy bảo tuổi trẻ của ông không chỉ là những năm tháng rèn luyện võ nghệ mà còn là những năm tháng cho quá trình hun đúc cho một trái tim hướng về lòng yêu nước và khát vọng tự do mãnh liệt, toát lên con người khảng khái có chí lớn. Trước thực tại đầy đau thương của dân tộc nước mình, ông không chọn cúi đầu hay chấp nhận mà lựa chọn con đường đứng lên, một lựa chọn này khó khăn nhưng vô cùng vĩ đại. Năm hai mươi tuổi, trước sự ngưỡng mộ cho tinh thần yêu nước và hào hiệp của Dương Đình Nghệ - một tướng dưới trướng họ khúc ở đất Ái Châu, người từng đánh đuổi quân Nam Hán năm 931 để chiếm được Đại La, bước đệm để thúc đẩy phong trào đấu tranh chống quân đô hộ Phương bắc, ông quyết định đi theo để đặt dấu chấm hết cho hơn 1000 năm đô hộ của giặc Phương Bắc. Nhờ tài năng thao lược mưu cao, mẹo giỏi và văn võ song toàn cùng với nhiệt huyết đầy mạnh mẽ, ông được Dương Đình Nghệ tin tưởng và yêu mến nên đã gả cô con gái là Dương Thị Như Ngọc và trao quyền cai quản đất Ái Châu, Thanh hóa Tên bài viết: "Vị tổ trung hưng" Ngô Quyền Trong những trang sử vẻ vang của dân tộc, có những con người không cần quá hoàn hảo nhưng họ lại dùng chính sự tự tin,can đảm ấy cũng đủ tạo bước ngoặt cho dòng chảy dân tộc Việt Nam ta. Ngô Quyền - người mở đầu cho nền độc lập, tự chủ là nhân chứng cho một cuộc đời không chỉ sống mà còn là người viết nên vận mệnh cho cả dân tộc.
Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ(tức ngày 17 tháng 4 năm 898) và mất vào ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn (hay năm 944) hương dương 45 tuổi. Quê ông ở Đường Lâm,Ba Vì(Hà Nội ngày nay). Ông sinh ra trong một dòng họ hào trưởng quý tộc lâu đời, có cha là Ngô Mân-một châu mục có tài có đức tại địa phương
Sinh ra trong một thời kỳ đầy biến động,khi đó, đất nước đang chìm trong ách đô hộ Phương Bắc. Từ nhỏ, ông đã được cha dạy bảo tuổi trẻ của ông không chỉ là những năm tháng rèn luyện võ nghệ mà còn là những năm tháng cho quá trình hun đúc cho một trái tim hướng về lòng yêu nước và khát vọng tự do mãnh liệt, toát lên con người khảng khái có chí lớn. Trước thực tại đầy đau thương của dân tộc nước mình, ông không chọn cúi đầu hay chấp nhận mà lựa chọn con đường đứng lên, một lựa chọn này khó khăn nhưng vô cùng vĩ đại.
Năm hai mươi tuổi, trước sự ngưỡng mộ cho tinh thần yêu nước và hào hiệp của Dương Đình Nghệ-một tướng dưới trướng họ khúc ở đất Ái Châu, người từng đánh đuổi quân Nam Hán năm 931 để chiếm được Đại La, bước đệm để thúc đẩy phong trào đấu tranh chống quân đô hộ Phương bắc, ông quyết định đi theo để đặt dấu chấm hết cho hơn 1000 năm đô hộ của giặc Phương Bắc. Nhờ tài năng thao lược mưu cao, mẹo giỏi và văn võ song toàn cùng với nhiệt huyết đầy mạnh mẽ, ông được Dương Đình Nghệ tin tưởng và yêu mến nên đã gả cô con gái là Dương Thị Như Ngọc và trao quyền cai quản đất Ái Châu, Thanh hóa.
Đến năm 937, bị chính vị tướng mà ông tin tưởng nhất là Kiều Công Tiễn ám sát để cướp ngôi Tiết Độ Sư một hành động phản bội tay chơi khiến đất nước rơi vào cảnh loạn lạc. Ngô Quyền với quyết tâm phục thù cho cha vợ và khôi phục trật tự, ông đã tập hợp lực lượng từ Ái Châu kéo ra Bắc giết kẻ phản bội.Kiều Công Tiễn chạy sang Trung Quốc cầu cứu vua Nam Hán ,chỉ chờ có thế vua Nam Hán cử con trai là Lưu Hoằng Tháo sang xâm lược và từ đây nó đã châm ngòi ngọn lửa cho trận chiến trên sông Bạch Đằng - một cuộc chiến giành độc lập.
Tháng 10 năm 938, Ngô Quyền từ vùng Ái Châu đem quân ra đánh Kiều Công Tiễn để khử đi một mối họa bên trong và làm thất bại ngay từ đầu âm mưu dùng nội ứng của vua Nam Hán. Sau đó ông huy động lực lượng nhân dân cả nước khẩn trương chuẩn bị tinh thần bước vào cuộc chiến chống quân xâm lược Nam Hán. Bằng trí tuệ, sắc bén và tầm nhìn chiến lược hơn người, ông đã phát động toàn bộ sức mạnh đoàn kết và khí thế của dân tộc, phân tích và đánh giá chỗ mạnh, chỗ yếu của quân ta và địch, chủ động cho nhân dân đẵn gỗ vót nhọn bịt sắt đóng thành một bãi cọc ở dưới lòng sông cửa sông Bạch Đằng. Quân thủy bộ với sự góp mặt của lực lượng quân binh mai phục ở hạ lưu sông. Đội thuyền của Nguyễn Tất Tố giỏi bơi lội, quen thuộc nước sông được giao nhiệm vụ khiêu chiến nhử địch tại bãi cọc để chúng tự dấn thân vào cạm bẫy ở phía dưới.
Trong thế trận ấy, trận địa mai phục bên trong bãi cọc giữ vai trò tiên quyết để chặn đứng mọi đường đi nước bước của địch, đồng thời giáng cho chúng một đòn khiến chúng bất ngờ, bao vây tiêu diệt triệt để giặc. Sự phối hợp giữa hai trận địa chứng tỏ chiến lược của Ngô Quyền là không chỉ đánh bại quân giặc mà còn muốn diệt sạch toàn bộ binh thuyền của giặc, giành thắng lợi oanh liệt, đập tan mộng xâm lược bành trướng của triều Nam hán. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng đã diễn ra ác liệt và kết thúc nhanh gọn với sự tài trí, lợi dụng địa hình, thiên nhiên để mai phục và lựa chọn địa hình sáng suốt của Ngô quyền.
Vào mùa xuân năm 939, Ngô Quyền chính thức lên ngôi vua, xưng là Ngô Vương lập ra nhà Ngô đóng đô ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội, đặt nền móng cho một triều đại mới, đánh dấu kỷ nguyên độc lập sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc.
Sau 6 năm trị vì kể từ lúc lên ngôi vua và mở ra một trang mới cho lòng tự tôn, tự do và tự chủ sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền hưởng thọ 45 tuổi. Khi nhắc đến ông người ta thường nghĩ đến ngay dáng vẻ hào hùng của ông cùng với chiến lược tài ba khi đánh bại quân xâm lược trên sông Bạch Đằng năm nào.


