Vị Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Lực lượng Công an nhân dân vũ trang, là Bí thư Tỉnh uỷ khi mới 23 tuổi

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ (1917 - 1991) quê ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội. Thân sinh của ông là cụ Phan Trọng Định, một nghệ nhân nổi tiếng chuyên thực hiện các tác phẩm phù điêu cho nhiều công trình lịch sử, văn hóa.
Cụ Định từng tham gia xây dựng Nhà hát thành phố Hà Nội, nhà hàng Bô-đê-ga Tràng Tiền và nhiều ngôi chùa lớn trong cả nước. Khoảng đầu thế kỷ XX, cụ Phan Trọng Định cùng một số người sang Lào làm ăn, lập nghiệp và Phan Trọng Tuệ được sinh ra tại đây.
Trong những năm 1929-1930, gia đình Phan Trọng Tuệ sinh sống tại Lào. Mới 13 tuổi, ông đã tham gia các phong trào yêu nước ở Viêng Chăn, trong đó có tổ chức Ái Hữu, do bà Trịnh Thị Miễn (thân sinh của ông Phan Trọng Tuệ) khởi xướng. Đến năm 1934, khi 17 tuổi, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Khi đó ông được tổ chức phân công trực tiếp phụ trách phong trào thanh niên học sinh Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Viêng Chăn. Năm 1935, sau khi tham gia vào một cuộc mít tinh lớn để phản đối Hòa ước mà triều đình nhà Nguyễn ký với thực dân Pháp và đến phá nhà một tên mật thám ở Viêng Chăn, ông đã bị thực dân Pháp bắt giam 4 tháng. Sau đó, cả gia đình ông bị trục xuất về nước.
Trở về quê hương, Phan Trọng Tuệ cùng các đồng chí nhanh chóng gây dựng lại cơ sở, khôi phục phong trào cách mạng. Giai đoạn 1939-1940, ông lần lượt đảm nhiệm cương vị Bí thư Tỉnh ủy Sơn Tây khi mới 23 tuổi, Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, sau đó phụ trách Liên tỉnh Hà Nội - Hà Đông - Sơn Tây. Đến cuối năm 1941, ông là Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, phụ trách công tác binh vận.
Năm 1943, Phan Trọng Tuệ bị thực dân Pháp bắt, kết án 27 năm tù khổ sai và đày ra Côn Đảo.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Phan Trọng Tuệ đảm nhiệm nhiều trọng trách như Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Sơn Tây, Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, Bí thư Liên tỉnh ủy Hà Nội - Hà Đông - Sơn Tây - Hà Nam, Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ phụ trách công tác binh vận; Tư lệnh, Phó Tư lệnh kiêm Chính ủy Phân liên khu miền Tây - miền Đông Nam Bộ...
Năm 1955, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Cuộc đời hoạt động cách mạng và quá trình trưởng thành của Phan Trọng Tuệ gắn bó mật thiết với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nhận xét về người đồng chí, người bạn chiến đấu của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết: “Đồng chí Phan Trọng Tuệ, người Cộng sản kiên trung, một vị tướng, một cán bộ cao cấp của Đảng, của Nhà nước có đức độ và tài năng, hết lòng vì nước vì dân. Đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập Đảng từ năm 1934 lúc mới 17 tuổi, đã hai lần bị địch bắt, tù đày, tra tấn nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết... Với tôi, đồng chí là người bạn chiến đấu thủy chung”.
Tháng 3/1957, Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ được giao giữ chức Phó Tổng Thanh tra Bộ Quốc phòng. Năm 1958, ông chuyển sang công tác tại Bộ Công an, đảm nhiệm cương vị Thứ trưởng, đồng thời giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Lực lượng Công an nhân dân vũ trang (sau này là Bộ đội Biên phòng Việt Nam).
Đến năm 1961, ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, ông tiếp tục được giao nhiều trọng trách đặc biệt quan trọng: năm 1965 làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559; năm 1968 giữ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh bảo đảm giao thông vận tải Quân khu 4, trực tiếp tham gia tổ chức, chỉ huy nhiệm vụ giữ vững các tuyến giao thông chiến lược phục vụ chiến trường.
Bộ trưởng Giao thông vận tải lâu năm nhất trong lịch sử ngành
Đặc biệt, Phan Trọng Tuệ giữ cương vị Bộ trưởng Giao thông vận tải, trở thành người đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng lâu năm nhất trong lịch sử ngành: từ năm 1961 đến 1980.
Khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng và phát triển ngành giao thông vận tải thành một ngành kinh tế quốc dân với nhiều lĩnh vực như vận tải, xây dựng công trình, cơ khí, đường bộ, đường thủy và đường sắt.
Trong những năm miền Bắc phải đối phó với chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, hệ thống giao thông thường xuyên bị đánh phá, gây ách tắc nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân và nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam.
Trên cương vị người đứng đầu ngành, Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ đã cùng tập thể lãnh đạo đề ra nhiều chủ trương, giải pháp linh hoạt, sáng tạo nhằm bảo đảm giao thông thông suốt trong điều kiện chiến tranh.
Ông cũng tham gia chỉ đạo việc đóng các tàu không số để vận chuyển vũ khí, hàng hóa chi viện cho cách mạng miền Nam. Nhờ những quyết sách quyết liệt và phù hợp, ngành giao thông từng bước giành lại thế chủ động, duy trì mạch máu vận tải phục vụ tiền tuyến.
Trong giai đoạn 1965-1968, Phan Trọng Tuệ được giao làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559, trực tiếp tham gia chỉ đạo xây dựng, mở rộng tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Dấu ấn nổi bật trong thời kỳ này là việc phát triển hệ thống đường cơ giới, trong đó có tuyến Đường 20 Quyết Thắng nổi tiếng. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa III và khóa IV, đồng thời là đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa II đến khóa VII.
Từ năm 1973 đến 1976, bên cạnh cương vị Bộ trưởng Giao thông vận tải, ông Phan Trọng Tuệ còn giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng với Phó Thủ tướng Đỗ Mười, ông thay mặt Chính phủ chỉ đạo việc nâng cấp, phát triển tuyến đường Trường Sơn theo tiêu chuẩn đường quốc gia.
Đây là chủ trương có ý nghĩa chiến lược, vừa đáp ứng yêu cầu vận chuyển chi viện cho chiến trường, vừa góp phần chuẩn bị cơ sở hạ tầng phục vụ công cuộc giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.
Trân trọng những đóng góp của ông, Thủ đô Hà Nội đã đặt tuyến đường mang tên Phan Trọng Tuệ nằm ở huyện Thanh Trì (cũ, nay thuộc địa phận xã Đại Thanh).



